HOTLINE: 0834 244 333   |   THƯ VIỆN   |   ĐẶT LÀM TRANG CHỦ

Một số vấn đề qua sửa đổi Hiến pháp, Bộ luật Lao động, luật Công đoàn

Cập nhật ngày: 28/11/2011 | 09:32 GMT+7

Điều 10 Hiến pháp năm 1992 nêu rõ: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác..."

Điều 10 Hiến pháp năm 1992 nêu rõ: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Điều này khẳng định vai trò nhiệm vụ của Công đoàn Việt Nam, tuy nhiên một số nội dung cần chỉnh sửa cho phù hợp với điều kiện hoạt động của Công đoàn hiện nay và trong những thập niên tới.

 

 Cần khẳng định rằng, Công đoàn Việt Nam có chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động và trên thực tế Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và các cấp công đoàn đã và đang thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho công nhân, viên chức, lao động. Công đoàn không chỉ là tổ chức có chức năng đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người lao động (NLĐ), mà còn cùng với Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đóng góp quan trọng vào quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Về tên gọi, nên thống nhất tên gọi của các cấp là “Công đoàn” (hiện nay có cấp thì gọi là “Liên đoàn Lao động” như Liên đoàn Lao động tỉnh, huyện, thành phố; có cấp thì gọi là “công đoàn” như công đoàn ngành, công đoàn cơ sở. Bởi vậy, Hiến pháp, Bộ Luật Lao động, Luật Công đoàn nên thống nhất tên gọi 4 cấp cơ bản như sau: Công đoàn doanh nghiệp, phường, xã (cấp cơ sở); Công đoàn quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Công đoàn ngành địa phương (cấp trên trực tiếp cơ sở); Công đoàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Công đoàn ngành Trung ương (Công đoàn cấp tỉnh); Tổng Công đoàn Việt Nam (cấp Trung ương).

 

Để tăng cường tính đại diện cho người lao động, các cấp công đoàn cần tuyên truyền, vận động kết nạp nhiều công nhân, viên chức, lao động tham gia công đoàn và tích cực hoạt động công đoàn. Trong những năm qua, các cấp Công đoàn đã có nhiều nỗ lực cố gắng tập trung cho việc phát triển đoàn viên, thành lập Công đoàn cơ sở, nhưng trong doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước có từ 20 lao động trở lên mới đạt tỷ lệ 51,3%, các cấp công đoàn phấn đấu 100% số doanh nghiệp có từ 50 lao động trở lên thành lập được công đoàn cơ sở vào cuối năm 2011.

 

Trong kinh tế thị trường, hầu hết cán bộ công đoàn cơ sở đều là cán bộ kiêm nhiệm, làm việc theo hợp đồng lao động (HĐLĐ), việc làm, tiền lương và sự thăng tiến đều do người sử dụng lao động quyết định. Thực tế cho thấy cán bộ công đoàn kiêm nhiệm ở cơ sở đang phải chịu nhiều khó khăn, thách thức, rủi ro, cần được bảo vệ. Thể chế hóa nghị quyết của Đảng về cơ chế bảo vệ cán bộ công đoàn, trong Luật Công đoàn, Bộ luật Lao động (sửa đổi lần này) rất cần thiết bổ sung các điều luật bảo vệ cán bộ công đoàn như quy định: trong nhiệm kỳ BCH công đoàn tại doanh nghiệp, người sử dụng lao động (NSDLĐ) không được đơn phương chấm dứt HĐLĐ, kỷ luật hạ bậc lương, chuyển làm công việc khác, buộc thôi việc hoặc sa thải cán bộ công đoàn nếu không có lý do chính đáng và chưa có ý kiến chấp thuận của BCH cơ sở hoặc công đoàn cấp trên cơ sở; Công đoàn cấp trên cơ sở có quyền khởi kiện trước tòa hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp đối với các trường hợp cán bộ công đoàn bị NSDLĐ chấm dứt HĐLĐ, buộc thôi việc hoặc sa thải trái pháp luật. Luật cũng cần có quy định về việc hỗ trợ, giúp đỡ cán bộ công đoàn cơ sở tìm kiếm việc làm, trợ cấp khó khăn nếu chưa tìm được việc làm mới hoặc có thu nhập thấp.

 

Về số giờ làm thêm của công nhân, lao động, Điều 69 Bộ luật Lao động hiện hành quy định “Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận làm thêm giờ, nhưng không được quá 4 giờ trong một ngày, 200 giờ trong một năm, trừ một số trường hợp đặc biệt được làm thêm không quá 300 giờ trong một năm do Chính phủ quy định, sau khi tham khảo ý kiến của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động”. Tuy nhiên, Dự thảo sửa đổi bổ sung Bộ Luật lao động, thì thời gian làm thêm giờ không được quá 50% số giờ làm việc chính thức và không quá 30 giờ trong một tháng, và bỏ quy định số giờ làm thêm tối đa trong một năm. Nếu quy định như vậy, thì số giờ làm thêm trong một năm của người lao động sẽ là 360 giờ, cao hơn so với quy định hiện hành là 160 giờ. Điều này không hợp lý, cần giữ như quy định cũ và về lâu dài sẽ quy định công nhân không phải làm thêm giờ.

 

Tiếp tục tham gia sửa đổi Hiến pháp 1992, các cấp công đoàn tổng kết thực hiện Hiến pháp, nhất là Điều 10, trong đó làm rõ những bất cập, hạn chế của quy định trong Hiến pháp liên quan đến chức năng, quyền hạn của tổ chức công đoàn; bên cạnh đó tập trung vào vấn đề vị trí, chức năng, quyền hạn của công đoàn theo quy định của Hiến pháp, trách nhiệm của Nhà nước và mối quan hệ giữa Nhà nước với Công đoàn VN trong việc tạo điều kiện cho các cấp công đoàn  phát huy quyền hạn, chức năng nhiệm vụ của mình. Từ Hiến pháp đến Luật Công đoàn và Bộ Luật Lao động cần có sự thống nhất cao, nhất là trong việc đảm bảo các hoạt động của Hệ thống chính trị, trong đó có Công đoàn và quyền lực của nhân dân.

 

 (Theo Tổng LĐLĐ Việt Nam)

4,159
Viết bình luận mới