HOTLINE: 0834 244 333   |   THÔNG TIN TÒA SOẠN   |   ĐẶT LÀM TRANG CHỦ
quà tặng doanh nghiệp

Lên thăm “công trình thế kỷ XX”

Cập nhật ngày: 21/03/2017 | 17:56 GMT+7

Ao ước, mong chờ từ rất lâu, tôi mới có dịp được lên Hòa Bình để tham quan Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, nơi được mệnh danh là “công trình của thế kỷ XX”.

Nhà máy Thủy điện Hòa Bình nhìn từ trên cao xuống

Nhà máy Thủy điện Hoà Bình được khởi công xây dựng vào ngày 6/11/1979, tại hồ Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, trên dòng sông Đà hùng vĩ. Sau hơn 15 năm xây dựng, công trình được khánh thành vào ngày 20/12/1994. Nhà máy gồm 8 tổ máy, công suất 1.920 MW, sản lượng điện hàng năm là8,16 tỷ KWh.

Trước đó, để xây dựng thành công nhà máy thì đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật của hai nước Việt Nam và Liên Xô (cũ) đã phải mất 8 năm khảo sát, nghiên cứu, quan trắc địa hình để thiết kế kỹ thuật. Trước khi có Nhà máy Thủy điện Sơn La (công suất 2.400 MW) thì đây là nhà máy thủy điện lớn nhất Việt Nam và Đông Nam Á.

Mặc dù là nhà máy thủy điện nhưng Nhà máy Thủy điện Hòa Bình có nhiệm vụ đầu tiên là chống lũ. Sông Đà là một trong ba phụ lưu chính của hệ thống sông Hồng, chiếm 55% lượng nước. Công trình thủy điện Hòa Bình góp phần quan trọng vào việc phòng chống lũ lụt cho vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, trong đó có thủ đô Hà Nội. Nhiệm vụ thứ hai là phát điện.

Nhà máy Thủy điện Hòa Bình là nguồn cung cấp điện chủ lực của toàn bộ hệ thống điện Việt Nam. Năm 1994, cùng với việc khánh thành nhà máy và tiến hành xây dựng đường dây 500KV Bắc - Nam từ Hòa Bình tới trạm Phú Lâm (TP. Hồ Chí Minh) hình thành một mạng lưới điện quốc gia. Công trình này góp phần đắc lực trong việc cung cấp nguồn điện cho miền Nam và miền Trung nước ta.

Đường hầm dẫn vào nơi đặt 8 tổ máy phát điện và khu điều hành trung tâm

Đập thủy điện Hòa Bình góp phần quan trọng vào việc cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp ở vùng hạ lưu, trong đó có đồng bằng sông Hồng, nhất là trong mùa khô. Đập hồ còn thực hiện việc điều tiết mực nước sông, đồng thời đẩy nước mặn ra xa các cửa sông. Sau khi hồ thủy điện hoàn thành, công trình còn cải thiện việc đi lại bằng đường thủy ở cả thượng lưu và hạ lưu. Hàng hóa từ Hòa Bình được chở lên các tỉnh khác như Sơn La, Điện Biên… bằng đường thủy một cách dễ dàng, tiện lợi và nhanh chóng.

Lên đến nơi, được nghe kể và chứng kiến quá trình xây dựng mới cảm nhận được hết sự kỹ vĩ của công trình cũng như sức mạnh vô biên của bàn tay, khối óc con người trong quá trình chinh phục thiên nhiên. Điều đặc biệt tạo nên dấu ấn riêng của Nhà máy Thủy điện Hòa Bình là toàn bộ 8 tổ máy và nhà điều hành hoàn toàn nằm trong lòng của một quả núi.

Toàn bộ nhà máy có gần 22km đường hầm đều được khoan sâu trong lòng núi. Trong đó, gian hầm trong tâm có chiều dài 260m, cao 53m và rộng 19,5m. Đây là nơi đặt 8 tổ máy phát điện và phòng điều hành trung tâm của toàn bộ nhà máy. Đồng thời là nơi làm việc của hơn 700 cán bộ, công nhân viên của Công ty Thủy điện Hòa Bình (3 ca/ngày).

8 tổ máy phát điện trong gian hầm trung tâm

Phía trên cao bên trái nhà máy chính là con đập duy nhất ngăn dòng sông Đà hùng vĩ để tạo nên hồ thủy điện. Đập cao 128m, dài 734m, được làm hoàn toàn bằng đất, đá và bê tông. Gần 50 triệu m3 đất, đá được đổ vào con đập với hơn sáu vạn người làm suốt hơn 10 năm ròng rã. Theo ước tính, lượng đất đá để làm con đập này có thể đắp thành một con đường rộng 1m, cao 1m từ Hà Nội vào TP. Hồ Chí Minh. Hồ thủy điện có diện tích 230 km2, chứa khoảng 9,7 tỷ m3 nước.

Đi qua đỉnh đập, men theo con đường chúng ta đi thẳng lên đồi Ông Tượng, nơi có tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tượng đài Bác Hồ cao 18m, nặng hơn 400 tấn, làm bằng chất liệu bê tông granit không bị ố mốc, không bị phong hóa, mài mòn với thời gian.

Được biết, năm 1962, trong một lần di chuyển bằng thuyền trên sông Đà, Bác đã chỉ tay xuống dòng sông và nói: “Phải biến thủy tặc thành thủy lợi. Mục đích cuối cùng phải chinh phục dòng sông có lợi ích lâu dài cho toàn dân”. Điều trăn trở, mong muốn của Bác đã thành hiện thực. Ngày 9/1/1986, dòng sông Đà đã được ngăn lần hai để bắt đầu xây dựng đập. Để tưởng nhớ Người và muốn lưu giữ câu chuyện lịch sử này cho thế hệ sau, tượng đài Bác Hồ đã được khởi công xây dựng vào ngày 8/1/1996, khánh thành vào ngày 1/2/1997.

Tượng đài Bác Hồ trên đồi Ông Tượng

Trên đường quay về thành phố Hòa Bình, đi ngang qua Nhà truyền thống của nhà máy, chúng tôi đến tham quan nơi đặt “bức thư thế kỉ”. Đây là một khối bê tông hình chóp cụt, trên đó có tấm biển thép khắc chìm dòng chữ: "Nơi lưu giữ bức thư của những người xây dựng Thủy điện Hòa Bình gửi thế hệ mai sau. Thư được mở vào ngày 1-1-2100".

Sau khi được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng và đồng chí Đỗ Mười đồng ý, lãnh đạo Tổng Công ty Xây dựng Nhà máy Thủy điện Hòa Bình mời một số nhà văn, nhà báo, nhà trí thức tham gia viết thư. Tuy nhiên, đồng chí Đỗ Mười cũng khuyên là vì Việt Nam chưa có tục lệ này, cho nên không được "chôn" vào lòng đập mà nên đặt ở chỗ nào trang trọng. Và thế là sau khi bàn bạc với chuyên gia Liên Xô, lãnh đạo tổng công ty quyết định đặt lá thư đó vào lòng khối bê tông.

Nơi lưu giữ “bức thư thế kỷ”

Sau khi lá thư được hoàn chỉnh về nội dung, một cán bộ viết chữ đẹp được giao nhiệm vụ chép hai bản đó với tiếng Việt và tiếng Nga bằng mực Tàu. Năm 2100 bức thư trong khối bê tông nặng hơn 10 tấn kia sẽ được mở ra. Nội dung không phải là điều bí mật, nhưng ý tưởng này đã làm cho bức thư trở nên thiêng liêng. Những con số trong đó sẽ là kì tích, những con người trong đó, trong công cuộc xây dựng công trình thủy điện thế kỉ này sẽ là kì nhân.

Thiết bị, máy móc được lưu giữ tại Nhà truyền thống Thủy điện Hòa Bình

Sự cống hiến và hi sinh của thế hệ cha anh nơi đây sẽ được con cháu thế hệ sau đời đời nhớ tới. Để hoàn thành công trình thế kỷ này, 168 con người đã vĩnh viễn vùi xương trong lòng núi, dưới đáy sông; trong đó có 11 người Liên Xô (cũ). Sự mất mát này không có gì bù đắp được, nhưng họ đã để lại cho đất nước một công trình vĩ đại đầy ý nghĩa, đang phát triển không ngừng.

Bài, ảnh: Bảo Ngọc

1,907
Viết bình luận mới
Thăm dò ý kiến

Một thời gian dài, tình trạng sạt lở do khai thác cát dọc sông Krông Nô, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông đã ảnh hưởng lớn đến đời sống sản xuất người dân. Trong khi đó, việc xử lý, khắc phục còn chưa triệt để. Theo bạn đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên?