HOTLINE: 0834 244 333   |   THƯ VIỆN   |   ĐẶT LÀM TRANG CHỦ

Chuyên đề về phát triển kinh tế - hạ tầng

Cập nhật ngày: 20/12/2015 | 11:00 GMT+7

PHẦN THỨ NHẤT

ĐÁNH GIÁ 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ X, NHIỆM KỲ 2010 – 2015

Nhiệm kỳ qua, tình hình quốc tế diễn biến phức tạp, kinh tế thế giới suy thoái kéo dài; bất ổn chính trị, chiến tranh cục bộ xảy ra ở nhiều nơi; tranh chấp chủ quyền trên biển Đông diễn ra với tính chất ngày càng phức tạp hơn. Kinh tế trong nước ngay từ đầu nhiệm kỳ đã xuất hiện nhiều vấn đề khó khăn, Trung ương đã kịp thời điều chỉnh các ưu tiên, đưa các nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội lên hàng đầu; thực hiện các chính sách thắt chặt tiền tệ, cắt giảm đầu tư công, nâng trần lãi suất cơ bản ở mức cao, hạn chế tăng trưởng.

Ở tỉnh ta còn chịu tác động mạnh bởi những đặc điểm riêng của một tỉnh mới thành lập. Bên cạnh những thuận lợi, tiềm năng lợi thế thì nổi lên là hạ tầng kỹ thuật, nhất là giao thông còn yếu kém; tình trạng dân nghèo di cư tự do và tỷ lệ hộ nghèo cao nhất vùng; trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực thấp; an ninh chính trị phức tạp và luôn có các yếu tố gây bất ổn định; các thế lực thù địch âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình”… Trong tình hình đó, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, đã tranh thủ thời cơ, phát huy tiềm năng, lợi thế; vượt qua khó khăn, thách thức để thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X. Trên lĩnh vực phát triển kinh tế - hạ tầng kết quả thực hiện như sau:

A/ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU TRONG NHIỆM KỲ 2010 – 2015

1-Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Bình quân giai đoạn (theo giá cố định 1994) đạt 12,62%; trong đó: khu vực nông nghiệp đạt 9,3%/5,15%; khu vực công nghiệp xây dựng đạt 16,83%/25,07%; khu vực dịch vụ đạt 14,98%/18,03%.(chưa đạt chỉ tiêu Đại hội X).

*Tính theo giá cố định năm 2010 thì tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn đạt mức 8,12%.

Về cơ cấu kinh tế: khu vực nông, lâm nghiệp chiếm 51,38%/33,73%; khu vực công nghiệp xây dựng chiếm 18,21%/39,57%; khu vực dịch vụ chiếm 30,41%/26,70% (theo phương pháp tính mới được Tổng cục thống kê tính toán và công bố).

2- GDP Bình quân đầu người: đạt 36,48 triệu đồng/ 27 triệu đồng (tương đương 1.697/1.590 USD), bằng 74%/75,7% so với mức bình quân chung cả nước (đạt chỉ tiêu đại hội X).

3- Về tài chính:

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn đạt 55,68/73 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân 17,3%/30%/năm.

- Tổng thu ngân sách bình quân tăng 10,3%/23%/năm.

(không đạt chỉ tiêu đại hội X)

4- Kim ngạch xuất khẩu: Đạt 700/550 triệu USD, tăng bình quân giai đoạn là 22,87%/16,17% (đạt chỉ tiêu đại hội X).

5- Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế:

  • Thủy lợi: Đảm bảo nguồn nước cho 68%/80% diện tích cây trồng có nhu cầu tưới.
  • Giao thông: Nhựa hóa 100%/100% đường tỉnh; 80%/80% đường huyện; 100%/100% bon, buôn có từ 1-2km đường nhựa.

- Điện: 99,5%/100% thôn, bon, buôn có lưới điện quốc gia; 95%/95% số hộ được sử dụng điện.

(Cơ bản đạt chỉ tiêu đại hội X)

Trong 5 chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế mà Nghị quyết Đại hội X đề ra, có 3 chỉ tiêu đạt và vượt là GDP bình quân đầu người, kim ngạch xuất khẩu và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế; có 2 chỉ tiêu không  đạt đó là, tốc độ tăng trưởng kinh tế và tài chính; nguyên nhân chủ yếu không thực hiện được 2 mục tiêu này là do dự báo chưa sát (Nhà máy Alumin Nhân Cơ không hoàn thành đúng tiến độ nên tốc độ tăng trưởng công nghiệp bình quân chỉ đạt 16,83/25,07%. Mặt khác, do những khó khăn chung của nền kinh tế tăng trưởng bình quân, tổng mức đầu tư xã hội giai đoạn 2010 - 2015 chỉ đạt 17,3/30%/năm nên cũng làm chậm lại tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh. Tốc độ tăng trưởng kinh tế không đạt và việc điều chỉnh giảm thu hoặc bãi bỏ 5 sắc thuế cùng với khả năng dự báo, quản lý nguồn thu và tổ chức thu chưa thật tốt đã làm cho tốc độ tăng thu ngân sách bình quân chỉ đạt 10,3%/23%).

*Các số liệu cụ thể hàng năm xem thêm bảng phụ lục kèm theo

 

B/ NHỮNG KẾT QUẢ NỔI BẬT TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - HẠ TẦNG NHIỆM KỲ 2010 -2015

1- Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch được chú trọng, đã điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và thường xuyên chỉ đạo việc lập, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của các huyện, thị; quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực đến 2020 và tầm nhìn đến 2030. Công tác quy hoạch xây dựng chung, quy hoạch chi tiết đô thị và nông thôn được tăng cường, nhất là các đô thị hạt nhân như Gia Nghĩa, Kiến Đức, Đắk Mil. Công tác quản lý quy hoạch, chuẩn bị đầu tư, quản lý đầu tư đã được các cấp, các ngành quan tâm tổ chức thực hiện; bước đầu có nhiều đổi mới, hiệu quả.

2- Việc quản lý, khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường có nhiều tiến bộ. Tỉnh ủy đã kịp thời ra các nghị quyết chuyên đề, thường xuyên kiểm tra, chỉ đạo chấn chỉnh, khắc phục yếu kém. Công tác tuyên truyền, giáo dục được tăng cường; nhận thức của các ngành, các cấp được nâng lên. Công tác thẩm định hồ sơ, giải quyết các thủ tục về giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp giấy phép khai thác sử dụng tài nguyên khoáng sản đảm bảo đúng pháp luật. Đến nay đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 95,7% tổ chức, đơn vị; 99,06% hộ gia đình, cá nhân có đủ điều kiện; điều chỉnh quy hoạch thủy điện; tổ chức lại việc quản lý, sử dụng đất rừng và đất nông nghiệp; xử lý nghiêm vi phạm về bảo vệ môi trường, đảm bảo định hướng phát triển bền vững.

3. Xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị là một trong 3 đột phá chiến lược của tỉnh được tập trung lãnh đạo và đã có kết quả bước đầu đáng kể. Hệ thống kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư xây dựng, nhất là các tuyến giao thông chính, hạ tầng kỹ thuật đô thị và nông thôn. Giao thông kết nối khá hoàn chỉnh từ xã đến tất cả các trung tâm hành chính huyện, thị, tỉnh. Hệ thống điện được chú trọng cải tạo, nâng cấp, xây mới; cơ bản đáp ứng được nhu cầu sản xuất, đời sống. Mạng lưới viễn thông phủ sóng rộng, chất lượng đảm bảo. Hệ thống cấp nước cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và phục vụ sản xuất. Hệ thống xử lý nước thải, chất thải rắn, rác thải đã được chú ý đầu tư xây dựng. Phát triển đô thị được chú trọng thực hiện đồng bộ ở tất cả các khâu lập, quản lý và thực hiện quy hoạch. Nhiều khu dân cư, đô thị đã được đầu tư hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, khang trang bằng nhiều nguồn vốn khác nhau. Hệ thống giao thông, điện chiếu sáng, cấp thoát nước, công viên, vườn hoa, cây xanh trong các đô thị được quan tâm đầu tư chỉnh trang, nâng cấp. Công tác quản lý, xây dựng nếp sống văn minh đô thị được chú trọng và có chuyển biến tích cực. Đến nay thị xã Gia Nghĩa được công nhận đô thị loại III, thị trấn Kiến Đức và thị trấn Đăk Mil được công nhận là đô thị loại IV.

4. Sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh theo hướng khai thác tốt lợi thế cạnh tranh của vùng, vừa mở rộng diện tích, vừa đẩy mạnh ứng dụng kỹ thuật, công nghệ cao; nâng cao hiệu quả sử dụng đất; sản xuất hàng hóa, sản phẩm có giá trị cao. Nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã được ban hành kịp thời, đúng hướng và bước đầu đi vào cuộc sống, được đông đảo nhân dân và doanh nghiệp triển khai thực hiện, làm thay đổi tư duy, tập quán canh tác trên nhiều loại cây trồng, vật nuôi; nhiều mô hình sản xuất đã ứng dụng rộng rãi các tiến bộ về công nghệ sinh học, cơ giới hóa, tự động hóa; tổ hợp tác, hợp tác xã được quan tâm củng cố, phát triển, đã góp phần đưa lại hiệu quả kinh tế cao. Công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng được chú trọng, mỗi năm trồng mới được 1.500 ha rừng. Hệ thống khuyến nông được xây dựng và kiện toàn tương đối hoàn chỉnh, trở thành lực lượng nòng cốt trong việc chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông, lâm nghiệp. Giá trị sản xuất trên 01 ha đất nông nghiệp đã tăng từ 45 triệu đồng (2010) lên 70 triệu đồng (năm 2015). Sản xuất hàng hóa nông sản với quy mô ngày càng lớn, sản phẩm nông nghiệp đa dạng; một số sản phẩm bắt đầu đã có thương hiệu, chất lượng được đánh giá cao, như: khoai lang Tuy Đức, quả có múi Đắk Glong, hạt tiêu Đắk Song, cà phê Đức Lập ..v.v..

Kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác được phát triển ở nhiều nơi, là tiền đề để hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có sức cạnh tranh tốt, góp phần quan trọng vào kết quả công tác xóa đói giảm nghèo, phát triển bền vững và ứng dụng rộng rãi những tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp. Cấp ủy và chính quyền các cấp đã chủ động, sáng tạo trong triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới; hệ thống hạ tầng kỹ thuật ở nhiều khu vực nông thôn đã được đầu tư xây dựng; nhất là hệ thống đường giao thông, điện, hạ tầng văn hóa - xã hội… Đã làm cho diện mạo khu vực nông thôn thay đổi đáng kể.

5. Sản xuất công nghiệp tăng khá, thương mại dịch vụ có bước phát triển nhanh. Giá trị gia tăng lĩnh vực công nghiệp năm 2015 đạt 2.494 tỷ đồng, tăng 2,2 lần so với năm 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 16,8%. Trong điều kiện kinh tế khó khăn chung, lĩnh vực công nghiệp duy trì tăng trưởng ổn định đã góp phần đáng kể vào quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Nhà máy Alumin - Nhân Cơ đã bước vào giai đoạn chạy thử nghiệm, nhà máy điện phân Nhôm đã khởi công và đang đảm bảo tiến độ xây dựng. Việc nghiên cứu ứng dụng để sản xuất sắt từ bùn đỏ đã thành công ở bước thử nghiệm, mở ra khả năng giải quyết vấn đề bùn đỏ của công nghiệp bô xít với quy mô lớn, là cơ hội để phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và công nghiệp sau nhôm trong những năm tới. Công nghiệp sản xuất và phân phối điện dần đi vào ổn định, chất lượng dịch vụ cung cấp điện ngày càng được nâng lên. Công nghiệp chế biến, nhất là chế biến nông lâm sản từng bước phát triển, giá trị sản xuất không ngừng được tăng lên. Đã tăng 150 cơ sở sản xuất công nghiệp so với đầu nhiệm kỳ, xây dựng thêm khu công nghiệp mới ở Nhân Cơ với quy mô 148 ha; một số cụm công nghiệp đã được triển khai đầu tư cơ sở hạ tầng. Về cơ bản lĩnh vực công nghiệp ngày càng khẳng định vị trí về thế mạnh lớn nhất trong kinh tế, phát triển đúng hướng trong cơ cấu kinh tế chung của tỉnh, có triển vọng lớn.

Tổng mức bán lẻ, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 17,6% và 22,87%. Các dịch vụ tài chính ngân hàng, viễn thông, vận tải, khách sạn và các dịch vụ công đều có bước phát triển đáng kể. Đến nay đã có 8/8 huyện, thị xã và 41/71 xã có chợ nông thôn. Hệ thống các đại lý bán buôn, bán lẻ được hình thành rộng khắp ở các thị trấn, thị tứ nên việc mua bán, luân chuyển hàng hóa ngày càng thuận lợi. Hệ thống các tổ chức tín dụng được mở rộng, tăng trưởng tín dụng bình quân hằng năm đạt 21%, tổng dư nợ năm 2015 đạt 12.800 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu dưới 3%. Cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật của các ngành dịch vụ được đầu tư tăng cường mạnh, chất lượng các dịch vụ cơ bản được cải thiện đáng kể.

6- Hệ thống các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế hợp tác ngày càng phát triển. Việc điều chỉnh các chính sách thu hút đầu tư theo hướng ngày càng ưu đãi nhiều hơn cho nhà đầu tư; đổi mới và nâng cao hiệu quả các hoạt động xúc tiến đầu tư; đẩy mạnh cải cách hành chính. Đến nay, toàn tỉnh có 3.217 doanh nghiệp đăng ký hoạt động, trong đó có 1.889 doanh nghiệp đang hoạt động với nguồn vốn đăng ký bình quân 8,81 tỷ/01 doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp lớn đầu tư vào các lĩnh vực có thế mạnh và mũi nhọn kinh tế của tỉnh, như: sản xuất Alumin, Nhôm, chăn nuôi đại gia súc, chế biến lâm sản, xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông... Một số doanh nghiệp có trình độ ứng dụng công nghệ cao; có khả năng về vốn, thị trường; có thể đóng vai trò quan trọng trong phát triển chung. Các hợp tác xã, tổ hợp tác đang dần được đổi mới; hoạt động, phát triển theo hướng thị trường. Đã hình thành một số mô hình kinh tế hợp tác kiểu mới như: nhóm đồng sở thích, nhóm tiết kiệm tín dụng đã hoạt động có hiệu quả, có độ tin cậy. Nhiều dự án ODA được triển khai với quy mô lớn với mục tiêu hướng vào phát triển nông thôn, giảm nghèo bền vững, phát triển cộng đồng, nhất là vùng sâu, biên giới, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số.

NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ

Bên cạnh các kết quả trên, lĩnh vực kinh tế - hạ tầng còn có những hạn chế, khuyết điểm đáng chú ý sau đây:

1- Chất lượng, tính khả thi việc thực hiện quy hoạch thấp; quy trình trong việc lập và thực hiện quy hoạch chưa đảm bảo nên sự đồng tình và ý thức chấp hành quy hoạch của nhân dân chưa cao; khả năng quản lý quy hoạch của các cấp chính quyền còn hạn chế.

2- Quản lý tài nguyên, khoáng sản chưa hiệu quả, còn lãng phí lớn, nhất là quản lý rừng và đất rừng; hằng năm rừng bị mất vẫn nhiều hơn rừng trồng thay thế, độ che phủ rừng thấp hơn mức che phủ rừng bình quân của cả nước (39/42%), trong khi đó mật độ dân số của tỉnh Đắk Nông chưa bằng 1/3 của cả nước (83/268 người/01 km2). Quản lý tài nguyên đất, nhất là đất lâm nghiệp không hiệu quả làm phát sinh các mâu thuẫn xã hội; dẫn đến tranh chấp, khiếu kiện, kể cả vi phạm pháp luật hình sự. Nông nghiệp chưa được quy hoạch phát triển bền vững theo định hướng lâu dài dẫn đến tình trạng sản xuất tự phát, thị trường tiêu thụ không ổn định.

3- Hạ tầng kỹ thuật đã được ưu tiên cao nhưng giao thông vẫn còn trong tình trạng khó khăn; đường sá xuống cấp nhanh nhưng bảo dưỡng, sửa chữa không kịp thời. Hạ tầng kỹ thuật đầu tư chưa được nhiều. Công nghiệp phát triển nhanh nhưng quy mô nhỏ bé, công nghệ lạc hậu (76% máy móc, dây chuyền công nghệ được sử dụng từ thập niên 50 của thế kỷ trước). Công nghiệp chế biến nông - lâm sản phát triển chậm, chưa khai thác được chuỗi giá trị từ các loại sản phẩm nông nghiệp mà tỉnh đang có thế mạnh; công nghiệp chế tạo chưa đáp ứng được nhiều cho mục tiêu phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Các khu, cụm công nghiệp chưa được lấp đầy, gây lãng phí đất đai và vốn đầu tư.

4- Các hoạt động dịch vụ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; các hoạt động tài chính, tín dụng, thương mại vẫn chưa bắt kịp được trình độ chung của cả nước; chưa đủ sức khơi thông, huy động và phân phối hợp lý các nguồn lực phục vụ tốt cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Hoạt động du lịch chủ yếu mới dựa vào thiên nhiên, chưa có đầu tư gì đáng kể. Các hoạt động phục vụ học tập, đào tạo, bảo vệ chăm sóc sức khỏe cộng đồng cũng còn nhiều mặt hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu học tập của xã hội cũng như niềm tin của nhân dân. Hệ thống doanh nghiệp vừa ít, vừa yếu kém, nhỏ bé; sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật còn thấp, sức cạnh tranh yếu.

 

PHẦN THỨ HAI

PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NHIỆM KỲ 2015 - 2020

A- PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ CHUNG

Trong bối cảnh, tình hình chung của thế giới, khu vực và nước ta, nhiệm kỳ 2015 - 2020 Đắk Nông vẫn còn là một tỉnh nghèo, mới thành lập, chưa phát triển. Tỉnh còn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức lớn, đó là: hạ tầng kỹ thuật cơ bản, thiết yếu về kinh tế - xã hội còn yếu kém và chưa đồng bộ; trình độ phát triển, chất lượng và quy mô nền kinh tế còn nhỏ, yếu, năng lực cạnh tranh thấp; mặt bằng dân trí và chất lượng nguồn nhân lực còn rất thấp so với nhu cầu phát triển.

Để tiếp tục phát huy tiềm năng, lợi thế của tỉnh, chuyển hướng mạnh mẽ phát triển theo chiều sâu, nâng cao chất lượng nền kinh tế, tăng khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập, Đảng bộ xác định mô hình tăng trưởng của tỉnh với 3 trụ cột, đó là: đổi mới mạnh mẽ quản lý và nâng cao trình độ, năng suất lao động; ứng dụng rộng rãi khoa học - công nghệ; đột phá về thể chế hóa và trách nhiệm công vụ. Luôn luôn giữ vững và tạo lập nền tảng là an dân, ổn định chính trị; Đẩy mạnh phát triển thông tin truyền thông, giáo dục cộng đồng; xây dựng môi trường kinh doanh thông thoáng, thân thiện, tạo khả năng mới khai thác nội lực, thu hút mạnh mẽ đầu tư xã hội, tạo ra sức mạnh liên kết vùng, khu vực, khoa học - công nghệ và đào tạo. Hướng đến bước trưởng thành vượt bậc trong nhiệm kỳ tới về sản xuất hàng hóa có quy mô lớn, sản phẩm có giá trị cao, chất lượng và lợi thế, là các sản phẩm đặc sắc, chủ lực của vùng. Tiếp tục kế thừa và phát triển mới “2 tập trung, 3 đột phá”, cần xác định ưu tiên tập trung cho 3 lợi thế trong giai đoạn mới là: chế biến sâu, tạo chuỗi giá trị của tổ hợp Alumin - nhôm - sắt xốp và các sản phẩm sau nhôm; du lịch; nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; đồng thời, quan tâm đầu tư hạ tầng thiết yếu kinh tế - xã hội, đô thị và nông thôn; kiên trì xây dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Ưu tiên cho phát triển xanh, bảo vệ môi trường tự nhiên, chất lượng phát triển và phát triển bền vững, hài hòa; chất lượng sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, ổn định.

Mục tiêu tổng quát của nhiệm kỳ 2015 - 2020 là: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; phát huy dân chủ, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết; khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức; phát huy tiềm năng, lợi thế để đến năm 2020 đưa Đắk Nông thoát ra khỏi tình trạng của một tỉnh nghèo, chưa phát triển.

Để thực hiện được phương hướng, mục tiêu tổng quát nêu trên, Đảng bộ xác định cần tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế - hạ tầng của tỉnh trong 5 năm tới là:

1- Tạo sự phát triển mang tính đột phá về kinh tế. Trên 3 hướng chính là tổ hợp công nghiệp bô xít - nhôm - sắt xốp, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và du lịch để sau 15 - 20 năm, Đắk Nông trở thành trung tâm công nghiệp bô xít - nhôm - sắt của cả nước, đồng thời tiềm năng khí hậu, đất đai, cảnh quan và văn hóa được đánh thức, khai thác đúng mức.

2- Tiếp tục đầu tư và nâng cấp, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng. Trước mắt cần ưu tiên cao cho giao thông, thủy lợi.

3- Cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng khai thác tốt tiềm năng lợi thế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất; phát triển chuỗi giá trị gia tăng trên nền tảng ứng dụng mạnh mẽ các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao.

4- Đẩy mạnh chương trình phát triển nguồn nhân lực một cách đồng bộ và đi vào chiều sâu, nâng cao trình độ dân trí, nguồn nhân lực xã hội tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên và nhân dân phát triển năng lực, có niềm tin, yên tâm hết lòng cống hiến; tâm huyết phấn đấu xây dựng Đắk Nông phát triển toàn diện, nhanh và bền vững.

Về các chỉ tiêu chủ yếu trong nhiệm kỳ 2015 - 2020:

1- Tăng trưởng kinh tế: Bình quân đạt 9%/năm (theo giá so sánh 2010), đến năm 2020 cơ cấu kinh tế (theo giá hiện hành) là: Nông nghiệp là 45,5%, Công nghiệp xây dựng 25,68%, Dịch vụ 28,83%.

- Thu nhập bình quân đầu người  đạt trên 54 triệu đồng (tương đương 2.515 USD). Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng bình quân hằng năm 14%. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng bình quân hằng năm trên 12%.

2- Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật:

- Thuỷ lợi: Đảm bảo nguồn nước cho 80% diện tích cây trồng có nhu cầu tưới.

- Giao thông: Tỷ lệ nhựa hóa đường toàn tỉnh đạt 64%.

- Cấp điện: Đạt 100% bon, buôn, bản, thôn có điện lưới quốc gia; 99% số hộ được dùng điện.

3- Môi trường: 90% hộ dân nông thôn, 100% hộ dân thành thị sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; các đô thị được xây dựng hệ thống thu gom và xử lý rác thải.

4- Tỷ lệ đô thị hóa chung toàn tỉnh là 30%.

5- Số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới: 18 xã; bình quân mỗi xã đạt 15 tiêu chí

B- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1- Đặt ưu tiên cao cho phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế để sớm khắc phục tình trạng chậm phát triển của tỉnh trong nhiệm kỳ sắp tới. Trước mắt cần đẩy mạnh đầu tư hạ tầng và nâng cao chất lượng quy hoạch. Tổ chức điều tra cơ bản, khảo sát thực trạng; sớm rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển chung, quy hoạch vùng, ngành cho sát với thực tế và yêu cầu. Đảm bảo thực hiện đầy đủ tính công khai dân chủ trong xây dựng quy hoạch theo quy định, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện quản lý quy hoạch; tạo cơ sở khoa học cho việc hoạch định các kế hoạch phát triển và đưa ra các quyết định quản lý của cơ quan có thẩm quyền. Xác định lộ trình triển khai thực hiện Quy hoạch chung xây dựng đô thị Gia Nghĩa đã được phê duyệt để kế hoạch hóa đầu tư, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư xây dựng phát triển đô thị. Tăng cường quy hoạch chi tiết để thực hiện tốt việc quản lý đô thị. Sớm điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sử dụng đất, khoáng sản, nông nghiệp và du lịch. Tiếp tục thực hiện việc phát triển đặc thù, phát huy lợi thế ở 3 tiểu vùng kinh tế động lực của tỉnh như Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ X, nhiệm kỳ 2010 - 2015.

2- Quản lý, khai thác, chế biến sâu có hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường; nhất là đất đai, khoáng sản, rừng; quản lý nghiêm ngặt và phát triển diện tích rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ. Chủ động có các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm thiểu tình trạng tài nguyên đất bị suy thoái, sa mạc hóa. Kiểm soát chặt chẽ công tác hoàn thổ sau khai thác bô xít; nghiên cứu cơ chế, chính sách thuê đất và hỗ trợ đời sống cho các đối tượng có diện tích đất khai thác bô xít. Kiên trì triển khai theo định hướng chế biến sâu, mở rộng chuỗi giá trị, nâng cao hàm lượng khoa học, lao động kỹ thuật với năng suất cao dần trong các thế mạnh về bô xít, nông nghiệp và các tài nguyên khác.

3- Huy động tối đa các nguồn lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông liên vùng và các công trình thủy lợi có khả năng mở rộng diện tích tưới, chống hạn. Kiến nghị Trung ương khởi động lại dự án đường sắt đa dụng để phục vụ phát triển kinh tế Tây Nguyên và công nghiệp bô xít - alumin - nhôm - sắt xốp; từng bước nâng cấp các tỉnh lộ đạt cấp độ đường cấp III miền núi. Hoàn thiện hệ thống thủy lợi đang có để phát huy tối đa hiệu quả; ưu tiên đầu tư nâng cấp các hồ chứa, hệ thống kênh dẫn; phát triển các dự án thủy lợi mới có quy mô lớn, như Đắk Gang (Đắk Mil, Cư Jút), đập dâng Hồ Nam Xuân (K’rông Nô)… Đặc biệt chú ý đầu tư phát triển các công trình thủy lợi nhỏ và vừa phù hợp với địa hình của vùng, đảm bảo nhu cầu tưới ở diện rộng. Đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị Gia Nghĩa, Đắk Mil, Kiến Đức và các đô thị khác theo quy hoạch đã được phê duyệt. Chuẩn bị các điều kiện, cơ sở vật chất để thành lập huyện mới Đức Xuyên, thành phố Gia Nghĩa trước năm 2020.

Phát huy hiệu quả quỹ đất đô thị ở các tuyến phố mới, các khu dân cư đô thị mới được đầu tư xây dựng. Dành diện tích đất đô thị cần thiết để đảm bảo cho mục tiêu công cộng, xây dựng các điểm vui chơi, giải trí cho người dân; tăng cường công tác chỉnh trang đô thị và đảm bảo vệ sinh môi trường. Ban hành, điều chỉnh, bổ sung các chính sách thu hút vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng theo các hình thức hợp tác công - tư (PPP) và các hình thức xã hội hóa khác để tăng cường xây dựng hạ tầng kỹ thuật thiết yếu như giao thông, thủy lợi, mạng lưới y tế cơ sở, giáo dục đào tạo.

4- Tiếp tục đầu tư tập trung và tạo đột phá về phát triển nông nghiệp theo định hướng ứng dụng công nghệ cao dựa trên lợi thế về khí hậu và đất đai, gắn với xây dựng nông thôn và nông dân. Hoàn thành các quy hoạch thủy lợi, nông nghiệp, các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của ngành trồng trọt, chăn nuôi để có cơ sở khoa học cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng phát huy tối đa lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng của từng tiểu vùng sinh thái. Lấy hiệu quả sử dụng đất là căn cứ chính để quyết định việc lựa chọn sản phẩm cũng như phương pháp và hình thức tổ chức sản xuất sản phẩm.

Có chính sách hợp lý tạo ra động lực thúc đẩy và thu hút doanh nghiệp lớn, các tổ chức và cá nhân ứng dụng mạnh mẽ các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp để đổi mới chất lượng và hiệu quả là định hướng quan trọng nhất làm tiền đề để xây dựng nông thôn, nông dân. Trước mắt hết sức coi trọng việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật ở từng khâu trên lĩnh vực giống cây trồng, vật nuôi; các phương thức canh tác tiết kiệm, hiệu quả, sản xuất sạch, ít ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, tiến tới có nhiều mô hình đồng bộ ở nhiều khâu ứng dụng các tiến bộ của khoa học công nghệ.

Tập trung phát triển chăn nuôi, nhất là chăn nuôi đại gia súc theo hướng quy mô trang trại, nuôi cá nước ngọt, khai thác tối ưu các lợi thế về chăn nuôi của tỉnh. Tiếp tục xây dựng mới và hoàn thiện các công trình thủy lợi, nâng cao khả năng tưới tiêu chủ động, bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu. Nghiên cứu đổi mới cơ cấu sở hữu, mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh, phương thức quản lý vận hành các công trình thủy lợi. Hoàn thành sắp xếp lại các công ty nông, lâm nghiệp theo Nghị quyết 30-NQ/TW. Việc đổi mới tổ chức sản xuất lâm nghiệp phải đáp ứng được yêu cầu bảo vệ và phát triển vững chắc rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; kinh doanh có hiệu quả rừng sản xuất; phát triển mô hình kinh tế rừng tổng hợp, tăng độ che phủ của rừng đạt 42%.

5- Tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, tập trung hai mũi nhọn có lợi thế lớn là chế biến sâu Alumin - nhôm - sắt xốp và các sản phẩm nông - lâm nghiệp để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Sau khi tổng kết mô hình thí điểm Alumin Nhân Cơ, đề nghị Trung ương cho phép tiếp tục thực hiện quy hoạch phát triển công nghiệp khai thác bôxít, sản xuất Alumin theo Quyết định 167 của Chính phủ. Phát triển công nghiệp điện phân Nhôm, sắt xốp và công nghiệp sản xuất các sản phẩm sau Nhôm, kéo dài chuỗi giá trị bắt đầu từ bôxít. Phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ phát triển công nghiệp Bôxít - Alumin - Nhôm. Phấn đấu trong 15 - 20 năm tới xây dựng Đắk Nông thành trung tâm công nghiệp sản xuất và luyện kim màu lớn của đất nước. Xây dựng khu vực Nhân Cơ theo mô hình sản xuất - dịch vụ và xã hội đồng bộ bao gồm tổ hợp khu công nghiệp tập trung, công nghiệp phụ trợ; đô thị và các dịch vụ tiện ích xã hội để phát triển bền vững. Tiếp tục khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng; công nghiệp chế biến nông, lâm sản, nhất là công nghiệp chế biến các sản phẩm nông nghiệp mà Đắk Nông có thế mạnh như cà phê, cao su, tiêu, ngô v.v... Chú ý công tác vận động thu hút đầu tư sớm lấp đầy các khu, cụm công nghiệp.

6- Phát triển mạnh các hoạt động dịch vụ, tập trung cho dịch vụ tài chính - ngân hàng, dịch vụ nông nghiệp, chuyển giao khoa học - công nghệ và dịch vụ hỗ trợ công nghiệp Alumin - nhôm - sắt xốp. Đẩy mạnh thu hút đầu tư để tạo nguồn lực mới thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Xây dựng các chính sách, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc… để huy động, thu hút, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Chăm lo phát triển sản xuất, nuôi dưỡng các nguồn thu, tăng cường quản lý các nguồn thu, chống thất thu ngân sách, phấn đấu đảm bảo mục tiêu tăng trưởng nguồn thu ngân sách hằng năm. Quản lý chặt chẽ việc chi ngân sách trên cơ sở tuân thủ đúng pháp luật, bố trí chi ngân sách theo hướng tích cực; tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng có trọng tâm trọng điểm, tránh đầu tư dàn trải. Phân cấp thu, chi giữa các cấp ngân sách hợp lý và đảm bảo việc thu, chi phù hợp với pháp luật về quản lý ngân sách, đồng thời khuyến khích, động viên việc thu đủ, thu đúng cũng như tiết kiệm chi tiêu ngân sách ở mọi lúc, mọi nơi.

Quan tâm tăng thêm tổ chức, mở rộng mạng lưới, tăng quy mô và chất lượng tín dụng. Hướng tăng tín dụng cần tập trung cho mục tiêu phát triển các ngành kinh tế, các sản phẩm hàng hóa mũi nhọn của tỉnh. Chú ý đảm bảo chất lượng tín dụng, giảm nợ xấu. Đẩy mạnh xúc tiến và hỗ trợ thương mại, xác lập các thị trường bền vững; phát triển rộng khắp hệ thống bán buôn, bán lẻ; phát triển đủ các chợ nông thôn, các trung tâm thương mại, các siêu thị. Thực hiện tốt công tác quản lý thị trường, ngăn chặn gian lận thương mại, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Phát triển mạnh các dịch vụ vận tải, viễn thông, các dịch vụ tư vấn, thông tin đáp ứng kịp thời các nhu cầu đa dạng của xã hội.

Tập trung nguồn lực và kêu gọi đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng du lịch tại các khu, điểm du lịch đã được quy hoạch, kết hợp chặt chẽ với việc khai thác các tiềm năng du lịch sinh thái, văn hóa, lịch sử, nhất là hang động núi lửa vùng Krông Nô. Tăng cường xây dựng và kết nối với các tuyến, điểm du lịch của các tỉnh khác ở Tây Nguyên và các trung tâm kinh tế, du lịch của cả nước. Có các biện pháp bảo vệ giữ gìn và tôn tạo môi trường sinh thái, cảnh quan thiên nhiên, nhất là sinh thái rừng, sản phẩm địa chất, danh thắng. Đẩy mạnh kêu gọi đầu tư, lập dự án, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển du lịch.

7- Phát triển hệ thống doanh nghiệp - hợp tác xã và kinh tế hợp tác. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Có cơ chế, chính sách xây dựng một số tổ chức kinh tế đầu đàn trong các ngành, lĩnh vực mà tỉnh có thế mạnh; phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo nội lực để thu hút các nguồn vốn FDI vào địa phương. Xúc tiến đầu tư hướng vào các nhà đầu tư lớn, tiềm năng, các lĩnh vực ưu tiên có thế mạnh. Xây dựng doanh nghiệp đầu tàu, nòng cốt, chăm lo phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, cải thiện môi trường kinh doanh.

Tạo điều kiện để các dự án FDI hoạt động có hiệu quả; xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh thân thiện. Tăng cường quan hệ đối ngoại với các nước để phát triển những ngành, lĩnh vực ưu tiên, mũi nhọn của tỉnh. Quảng bá hình ảnh, tiềm năng của địa phương. Tích cực thực hiện đổi mới doanh nghiệp nhà nước, nhất là các nông, lâm trường. Phát triển mạnh các hình thức kinh tế hợp tác đa dạng theo lĩnh vực, nhóm sản phẩm, phù hợp với điều kiện, khả năng của kinh tế hộ, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tạo điều kiện để khai thông các nguồn tín dụng, chuyển giao khoa học công nghệ cũng như thu hút đầu tư, quản lý sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa có quy mô và chất lượng cao hơn.

PHẦN III

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Các cấp ủy đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc chỉ đạo quán triệt, học tập sâu sắc quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2015 – 2020 trong toàn đảng, toàn quân và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong việc triển khai thực hiện.

2. Các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành có liên quan lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình hành động, kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết đề ra, đồng thời phát động phong trào thi đua; thường xuyên kiểm tra, khảo sát, nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến.

3. Đảng đoàn Hội đồng nhân dân tỉnh chỉ đạo việc xây dựng các cơ chế, chính sách phù hợp với tình hình thực tế của địa phương và giám sát việc tổ chức thực hiện.

4. Ban cán sự đảng UBND tỉnh, lãnh đạo UBND tỉnh cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện thành các chương trình, kế hoạch trong từng năm và kế hoạch 5 năm 2015 – 2020 để chỉ đạo các cấp, các ngành triển khai thực hiện thành công Nghị quyết.

5. Các ban đảng, văn phòng Tỉnh ủy theo chức năng, nhiệm vụ được phân công chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết Đại hội. Định kỳ hàng năm đánh giá tiến độ thực hiện, đề xuất, bổ sung các giải pháp và báo cáo kết quả thực hiện về Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

Giao cho Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì phối hợp với các ban đảng, Mặt trận, đoàn thể tổ chức biên soạn tài liệu học tập, quán triệt Nghị quyết trong các cấp ủy đảng, cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên và các tầng lớp nhân dân, đảm bảo phù hợp với từng đối tượng. Phổ biến, tuyên truyền Nghị quyết bằng nhiều hình thức phong phú, thích hợp.

6. Ban Thường vụ Tỉnh ủy kịp thời khen thưởng đối với các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 – 2020; đồng thời kiểm điểm, phê bình tập thể, cá nhân không nghiêm túc trong triển khai thực hiện Nghị quyết. Định kỳ hàng năm Ban Thường vụ Tỉnh ủy báo cáo kết quả thực hiện cho Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.

GỢI Ý THẢO LUẬN

Cần làm rõ các vấn đề sau:

1- Tạo sự phát triển mang tính đột phá về kinh tế. Trên 3 hướng chính là tổ hợp công nghiệp bô xít - nhôm - sắt xốp, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và du lịch để sau 15 - 20 năm Đắk Nông trở thành trung tâm công nghiệp bô xít - nhôm - sắt của cả nước, đồng thời tiềm năng khí hậu, đất đai, cảnh quan và văn hóa được đánh thức, khai thác đúng mức.

2- Tiếp tục đầu tư và nâng cấp, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng. Trước mắt cần ưu tiên cao cho giao thông, thủy lợi.

3- Cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng khai thác tốt tiềm năng lợi thế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất; phát triển chuỗi giá trị gia tăng trên nền tảng ứng dụng mạnh mẽ các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao.

4- Đẩy mạnh chương trình phát triển nguồn nhân lực một cách đồng bộ và đi vào chiều sâu, nâng cao trình độ dân trí, nguồn nhân lực xã hội tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên và nhân dân phát triển năng lực, có niềm tin, yên tâm hết lòng cống hiến; tâm huyết phấn đấu xây dựng Đắk Nông phát triển toàn diện, nhanh và bền vững.

2,476
Viết bình luận mới
Thăm dò ý kiến

Một thời gian dài, tình trạng sạt lở do khai thác cát dọc sông Krông Nô, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông đã ảnh hưởng lớn đến đời sống sản xuất người dân. Trong khi đó, việc xử lý, khắc phục còn chưa triệt để. Theo bạn đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên?