HOTLINE: 01234 244 333   |   THÔNG TIN TÒA SOẠN   |   ĐẶT LÀM TRANG CHỦ
quà tặng doanh nghiệp

Nâm Nung - Vùng đất, con người và truyền thống

Cập nhật ngày: 17/08/2018 | 09:36 GMT+7

Lời Tòa soạn: Để cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ hơn về truyền thống cách mạng, về vùng đất và con người Đắk Nông, Báo Đắk Nông trân trọng giới thiệu một số nội dung trong cuốn sách “Lịch sử căn cứ kháng chiến Nâm Nung (1959-1975)” do Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo thực hiện, Nhà Xuất bản Lý luận Chính trị phát hành. Cuốn sách gồm 3 chương: Chương I: Vùng đất-Con người và truyền thống; Chương II: Tỉnh Quảng Đức được thành lập, đảm nhận nhiệm vụ xây dựng căn cứ và hành lang chiến lược địa bàn Tây Nguyên xuống chiến trường Đông Nam bộ (1954-1960); Chương III: Cuộc đấu tranh chống Mỹ và bảo vệ hành lang chiến lược Bắc-Nam trên địa bàn căn cứ kháng chiến Nâm Nung (1961-1975).

Hiện nay, di tích lịch sử cách mạng căn cứ kháng chiến Nâm Nung (còn gọi là căn cứ kháng chiến B4 – Liên tỉnh IV) gồm hai địa điểm Bắc Nâm Nung và Nam Nâm Nung thuộc địa bàn huyện Krông Nô và huyện Đắk Glong.

Núi Nâm Nung (Krông Nô). Ảnh: Ngọc Tâm

Di tích lịch sử cách mạng căn cứ kháng chiến Bắc Nâm Nung trải dài trên địa bàn xã Nâm Nung, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông. Phía Bắc giáp với xã Đắk Rồ, phía Đông Nam giáp với xã Nâm N’Dri, phía Tây Bắc giáp với xã Đắk Rồ và xã Đắk Môl, huyện Đắk Song, phía Nam giáp với xã Nâm N’Dri. Căn cứ kháng chiến Nam Nâm Nung nằm ở phía núi Nâm Jer Bri, trực thuộc địa phận Khu Bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung và Lâm trường Đắk N’Tao (nay là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đắk N’Tao) trên địa bàn xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong, phía Bắc giáp với xã Đắk Môl và Nâm N’Dri, huyện Krông Nô, phía Đông giáp với núi Yok Nor Tou Rdéh, phía Tây giáp với xã Đắk N’Drung và phía Nam giáp với suối Đắk Rung.

Căn cứ kháng chiến Nâm Nung thuộc vùng đất cao nguyên có địa hình hiểm trở, nhiều đồi núi, rừng rậm nguyên sinh, đỉnh cao nhất là 1.546m so với mực nước biển, tạo thế liên hoàn theo hướng Đông Nam. Từ Nâm Nung nối liền với xã Nâm Xoni là căn cứ vững chắc của huyện Khuyên Đức nối liền dãy núi Tà Đùng, phía Tây dãy Tà Đùng là xã Quảng Khê (huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông), phía Nam là căn cứ kháng chiến tỉnh Lâm Đồng, tạo thành địa thế hiểm trở, núi liền núi, sông liền sông, tạo thế vững chắc cho căn cứ kháng chiến của tỉnh Quảng Đức, Lâm Đồng... trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; thuận lợi cho việc đóng quân, xây dựng và bảo toàn lực lượng cách mạng, đi lại và chiến đấu trong vùng căn cứ.

Đất đai màu mỡ, chủ yếu là đất đỏ bazan, được thiên nhiên kiến tạo nhiều ao hồ, đầm lầy, suối rạch, thuận lợi cho việc phát triển cây lương thực, thực phẩm vừa bảo đảm cho nhu cầu lương thực tại chỗ phục vụ cuộc kháng chiến trường kỳ, thuận lợi cho phát triển cây nông, công nghiệp, như: lúa, ngô, khoai, sắn, cà phê, bông, hồ tiêu,…

Nơi đây chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm. Một năm chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 (dương lịch), mùa khô từ tháng 11 đến cuối tháng 3 năm sau. Mưa nhiều vào tháng 7, tháng 8, tháng 9, nắng nhiều vào tháng 1, tháng 2. Lượng mưa bình quân hàng năm khoảng 2.178mm. Độ ẩm trung bình năm là 81%. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,2o. Nói chung khí hậu nơi đây tương đối mát mẻ, thuận lợi cho việc trồng, phơi sấy các sản phẩm nông, công nghiệp và chăn nuôi gia súc.

Trong tỉnh, đây là địa bàn quốc lộ 14 xuyên qua, là con đường huyết mạch giao lưu, buôn bán, trao đổi hàng hóa với các miền giữa các tỉnh Tây Nguyên với miền Đông Nam bộ. Căn cứ kháng chiến Nâm Nung có nhiều cảnh đẹp, là điều kiện tốt để xây dựng điểm văn hóa du lịch và góp phần phát triển kinh tế địa phương.
Địa bàn căn cứ kháng chiến Nâm Nung tập trung nhiều dân tộc anh em sinh sống, trong đó, dân tộc M’nông là dân tộc bản địa quần tụ lâu đời nhất nơi đây. Từ xa xưa, dân tộc M’nông được phân chia thành các nhóm địa phương như Pnông, Nông, Preh, Bu đâng, Đi Pri, Rơ lan, Chil…; mỗi nhóm địa phương vừa mang trong mình bản sắc chung của dân tộc M’nông, vừa mang một số sắc thái văn hóa riêng của các nhóm địa phương. Vùng căn cứ kháng chiến Nâm Nung với 7 bon đồng bào dân tộc M’nông Preh và 5 bon Nam Nâm Nung là đồng bào dân tộc Prơng…

Người M’nông sống chủ yếu bằng nông nghiệp, canh tác trên đất rẫy là chính. Theo tập quán lâu đời, việc sử dụng đất rẫy (mir) của đồng bào thường theo chế độ luân khoảnh khép kín và luân khoảnh mở rộng. Thời gian luân khoảnh trên đám rẫy tùy thuộc vào độ phì nhiêu của đất đai. Mỗi bon của người M’nông đều có một khu vực canh tác nhất định. Ranh giới đất đai của các bon thường được dựa vào những đặc điểm địa lý tự nhiên như ngọn suối, mỏm đá, đỉnh đồi… để làm mốc phân giới, do các chủ bon liên giới với nhau quy ước, thường đã xác định từ xa xưa và lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác.

Cùng với kinh tế nương rẫy, người M’nông còn chăn nuôi gia súc gia cầm; săn bắt và hái lượm. Một số nghề thủ công của người M’nông đã đạt tới trình độ khá tinh tế như nghề dệt vải có hoa văn, đan lát đồ dùng gia đình bằng mây tre lá, nghề rèn cũng khá phổ biến nhằm rèn công cụ, sửa chữa những đồ dùng bằng sắt, rèn vũ khí (lao, xà gạc…) và một số công cụ khác bằng kim loại.

Truyền thống văn hóa đồng bào dân tộc trên địa bàn Nâm Nung, đặc biệt là nền văn hóa của dân tộc bản địa M’nông, Êđê… hết sức đặc sắc, gắn với hệ thống nghi lễ - lễ hội, liên quan chặt chẽ đến hệ thống thần linh và tín ngưỡng đa thần. Là những cư dân nông nghiệp, nên các lễ nghi đều phục vụ cho đời sống sinh hoạt hàng ngày, gắn với nông nghiệp hết sức phong phú như lễ trừ sâu bệnh, lễ cúng giữa vụ lúa, lúc lúa trổ đòng, lễ tuốt lúa, lễ cơm mới; những nghi lễ trong tang lễ, cưới hỏi, lễ lập bon mới,…

Trong lúc thanh bình cũng như trong quá trình kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, đồng bào các dân tộc nơi đây vẫn duy trì, tổ chức nhiều nghi lễ, lễ hội truyền thống đậm dấu ấn văn hóa đặc trưng của dân tộc, trong đó có lễ mừng chiến thắng vẫn được tổ chức trong kháng chiến. Có thể nói, những nghi lễ, lễ hội trên địa bàn Nâm Nung nói riêng, vùng Tây Nguyên nói chung rất phong phú, đa dạng, là chất keo gắn kết những con người của cộng đồng thành một khối vững chắc trong suốt quá trình lịch sử lâu dài của dân tộc.

Trong quá trình lịch sử và cuộc sống hàng ngày của người M’nông, họ đã sáng tạo ra được một số loại nhạc cụ độc đáo, tuy còn rất thô sơ nhưng phong phú về số lượng và chủng loại: Bộ gõ có dàn chiêng (cĩng), trống (ding gơr), đàn môi (guốc)… Ca hát dân gian rất phong phú và đa dạng, hình thức truyền miệng được coi là phương tiện chủ yếu của đồng bào dùng để chuyển tải văn hóa từ vùng này sang vùng khác, từ đời này qua đời khác, tiêu biểu là những thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ, các luật tục dưới dạng văn vần hay hát đối đáp nam – nữ.

Trong trang phục hàng ngày, nghệ thuật tạo hình được thể hiện rất sinh động. Hoa văn trên nền vải của người M’nông chủ yếu tạo hình theo một mô tuýp truyền thống được cách điệu bằng nhiều hình thức khác nhau. Đàn ông thường đóng khố, rộng chừng 20cm và dài trên 1cm, đàn bà quấn yêng, lấy khăn che ngực. Trong những dịp lễ tết, đàn ông còn mặc thêm một cái áo ngắn không cổ, hở bụng và đàn bà thường quấn yêng màu tím đỏ. Cộng thêm vào đó là những trang sức đi cùng phục trang rất đa dạng. Họ thường đeo những vòng đồng, đeo chồng chất ở cổ tay, cổ chân, càng đeo nhiều càng thể hiện sự giàu sang.

Cũng như các dân tộc khác trên toàn miền sơn nguyên Nam Đông Dương, M’nông vùng căn cứ Nâm Nung là dân tộc có tinh thần yêu độc lập tự do, có truyền thống bất khuất chống xâm lược. Đặc biệt, từ những thế kỷ xa xưa đến thời kỳ cận đại, họ là những dân tộc luôn gìn giữ được cuộc sống độc lập tự do cho quê hương. Khi kẻ thù xâm lược tàn phá quê hương, bon rẫy thì tinh thần yêu nước cũng được nhen nhóm và bùng nổ, kiên cường đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ quê hương.

Những cuộc đấu tranh trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời

Năm 1856, trong lúc triều đình nhà Nguyễn khủng hoảng trầm trọng, nông dân khắp nơi nổi dậy, chính quyền phong kiến ở nhiều địa phương bị tê liệt. Bên ngoài giặc Pháp đang lăm le tìm cớ để vũ trang xâm lược Việt Nam. Nắm được thời cơ thuận tiện, các giáo sĩ ở hội thánh Ba Na liền lập ngay một tòa đại lý ở Kon Tum để cai trị xứ này. Tòa đại lý gồm những quan cai trị mặc áo đen, đeo thập ác, từ năm 1889 trở về sau trực thuộc vào chính quyền của thực dân Pháp ở Lào.

Sau nhiều năm truyền đạo, thăm dò nghiên cứu, khảo sát về cảnh quan địa lý, phong tục, tập quán, tìm hiểu về tình hình chính trị trên địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số tại Nam Tây Nguyên (địa bàn Nâm Nung và vùng lân cận), thực dân Pháp đã dùng lực lượng quân sự đánh chiếm, bình định và thống trị vùng này.

Khu khánh tiết và Tượng đài chiến thắng Khu di tích căn cứ kháng chiến B4 -  Liên tỉnh IV. Ảnh tư liệu

Năm 1905, thực dân Pháp chính thức bãi bỏ chế độ “Sơn phòng” của triều đình nhà Nguyễn, trực tiếp đảm nhiệm các vấn đề kinh tế, chính trị và an ninh trên địa bàn lãnh thổ các tỉnh Tây Nguyên.

Với chế độ thuế khóa của thực dân Pháp, hàng năm, mỗi người Ê đê, M’nông và các dân tộc khác ở Đắk Lắk phải nộp cho chính quyền thực dân một khoản tiền thuế thân và đi làm phu 20 ngày. Cùng với các loại thuế khác như thuế nóc nhà, thuế làm rẫy, thuế voi. Ngoài ra, chính quyền thực dân còn bày ra các chế độ phạt vạ đối với các dân tộc bản địa như: phạt làm hỏng đường sá, phạt làm hỏng các cây, chống lại chính quyền.

Đồng thời, thực dân Pháp đã khuyến khích tất cả các nhà nông nghiệp Pháp đầu tư vốn mở mang đồn điền cây công nghiệp như chè, cà phê, cao su, tại những vùng đất rộng lớn trên địa bàn cư trú của người M’nông, Ê đê. Hàng chục đồn điền trồng cây công nghiệp của tư sản Pháp lần lượt được dựng lên như đồn điền Ca Đa, Đắk Nia, đồn điền lúa ở Nâm Kạ,… Quy mô các đồn điền này ngày càng mở rộng, tỷ lệ thuận với chế độ bắt xâu đối với đồng bào địa phương ngày càng ráo riết và tàn bạo.

Bên cạnh chính sách khai thác kinh tế, thực dân Pháp tập trung ở Tây Nguyên một lực lượng quân sự khá mạnh, ngay tại thị xã Buôn Ma Thuột có một trung đoàn lính khố đỏ (quân cơ động) thường trực là một quan năm (đại tá) chỉ huy và một tiểu đoàn lính khố xanh (quân địa phương) do một quan tư (thiếu tá) chỉ huy.

Năm 1899, thực dân Pháp đã thiết lập tòa Đại lý hành chính tại Bản Đôn (Buôn Đôn). Ngày 22/11/1904, tỉnh Đắk Lắk được chính thức thành lập, tỉnh lỵ đóng tại Buôn Ma Thuột. Từ đây, bộ máy cai trị của chính quyền thực dân Pháp được thiết lập xuống tới các bon, buôn của đồng bào các dân tộc ở Nam Tây Nguyên với mục đích nhằm cắt đứt mọi liên lạc giữa vùng đồng bằng Việt Nam và miền sơn nguyên Nam Đông Dương, một số khu vực đã bình định ở bên kia sông Đắk Sal, Krông Nô sẽ được ngăn chặn nghiêm ngặt.

Cùng với việc cai trị về kinh tế, quân sự, thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu dân” để hòng dễ cai trị vùng Tây Nguyên. Chúng chỉ mở một số trường sơ học bên cạnh một số trường Giáo phận dùng để truyền giáo. Ngoài ra, trên phương diện văn hóa, chúng chỉ thị các tỉnh trưởng Pháp có nhiệm vụ điều chế và góp nhặt tất cả những phong tục tập quán của người sơn cước.

Dưới chiêu bài “bảo vệ và phát triển các chủng tộc Thượng” hoặc “không đụng chạm đến văn hóa bản địa”, ngăn cấm đến mức tối đa sự tiếp xúc liên lạc giữa người sơn cước Việt Nam và người đồng bằng, thực dân Pháp đã tạo điều kiện duy trì và khuyến khích phục hồi những hủ tục, mê tín dị đoan trong nhân dân. Mặt khác, mọi sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, các vùng đều bị cấm.

Chính sách của Pháp trên các mặt trận chính trị - quân sự, kinh tế và văn hóa – xã hội đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của các dân tộc trên toàn miền sơn nguyên Nam Đông Dương. Trước nguy cơ bị một kẻ thù lớn mạnh cướp mất cuộc sống độc lập và tự do tổ tiên giữ được, các dân tộc miền sơn nguyên Nam Đông Dương hoặc lẻ tẻ, hoặc liên minh phối hợp với nhau vùng lên chống lại bọn xâm lược, đánh vào các đồn bót và cuộc hành quân của giặc; chống thuế, chống xâu, hay lánh cư, bất hợp tác, không phục tùng…

Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp trên địa bàn căn cứ kháng chiến Nâm Nung

Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược của các dân tộc ở Tây Nguyên ngay từ khi thực dân Pháp vừa đặt chân đến vùng đất này đã diễn ra liên tục và mạnh mẽ. Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa do N’Trang Gưh lãnh đạo (1900-1914) và đỉnh cao là phong trào chống thực dân Pháp của đồng bào M’nông dưới sự lãnh đạo của N’Trang Lơng kéo dài gần một phần tư thế kỷ (1912-1936).

N’Trang Gưh là người Bih (một nhóm của dân tộc Ê đê), quê ở buôn Choáh (nay thuộc buôn Choáh, xã Buôn Choáh, huyện Krông Nô). Không chịu khuất phục trước kẻ thù, năm 1900, N’Trang Gưh kêu gọi đồng bào Bih và các dân tộc anh em trong vùng nổi dậy đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược và bảo vệ quê hương.

Ngày 1/3/1900, quân Pháp đánh chiếm các buôn của người Bih dọc lưu vực sông Krông Nô và Krông Ana. Ở đây, ngoài sự hỗ trợ của lực lượng nghĩa quân do tù trưởng Y Kơn dẫn đầu, vị thủ lĩnh N’Trang Gưh đã lãnh đạo nghĩa quân chiến đấu dũng cảm, chuyển thế từ bị động sang chủ động, bao vây tên chỉ huy Pháp – Bourgeois, khiến hắn phải rút lui. Trên đường tháo chạy, quân Pháp đốt phá tàn trụi buôn Tur và Buôn Trấp (nay là thị trấn Buôn Trấp, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk).

Hai ngày sau (3/3/1900), tên Bourgeois đem quân trở lại, vượt sông Krông Nô tiến đánh buôn Choáh. Đây không chỉ là cái nôi mà còn là trung tâm hoạt động trọng yếu của nghĩa quân. Do vậy, Bourgeois tập trung một lực lượng quân lớn xông vào đốt phá buôn Choáh, bắt, giết nhiều người vô tội. Sau nhiều đợt chống trả quyết liệt, biết không thể đánh nổi lực lượng hùng hậu của địch, để dưỡng binh và bảo toàn lực lượng, N’Trang Gưh và nghĩa quân đưa bà con trong buôn tạm lánh trong cánh rừng gần buôn Choáh hướng về phía Nam.

Sau một thời gian chỉnh đốn lực lượng, N’Trang Gưh cùng với nghĩa quân trở lại buôn Choáh, quyết tâm giải phóng buôn làng. Năm 1901, hơn 600 nghĩa quân dưới sự chỉ huy của N’Trang Gưh đã vượt sông Krông Nô tấn công, bao vây đồn buôn Tur, bắn hàng loạt tên vào đồn giặc, toàn bộ quân xâm lược bị tiêu diệt, tên đồn trưởng Bourgeois chết gục trước sân đồn, người cắm đầy tên.

Sự có mặt của lực lượng khởi nghĩa do N’Trang Gưh lãnh đạo cách Buôn Ma Thuột khoảng 15-30 km là mối đe dọa lớn đối với âm mưu đô hộ và bình định của thực dân xâm lược. Vì vậy, từ năm 1901 đến 1913, quân Pháp ở Buôn Ma Thuột liên tục mở nhiều cuộc hành quân khá quy mô, càn quét, đánh phá nghĩa quân, nhằm tiêu diệt và thôn tính phong trào đấu tranh yêu nước của người Ê đê, đặt ách cai trị và bóc lột vùng đất này. Nghĩa quân N’Trang Gưh đã chiến đấu dũng cảm, bảo vệ quê hương trong suốt 13 năm.

Trước sức kháng cự mạnh mẽ của phong trào khởi nghĩa N’Trang Gưh, thực dân Pháp đã huy động lực lượng quân sự mở nhiều cuộc hành quân quy mô lớn, quyết tâm tiêu diệt bằng được phong trào khởi nghĩa của N’Trang Gưh. Trước tình hình đó, năm 1913 N’Trang Gưh chỉ huy nghĩa quân cùng đồng bào buôn Choáh tạm lánh vào rừng. Cùng đi với nghĩa quân là 250 gia đình người Bih tiến vào phía Nam lưu vực sông Sêrêpốk, xây dựng buôn mới, tiếp tục cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp.

Năm 1914, giặc hành quân bao vây tấn công khu vực đóng quân của N’Trang Gưh. Trong tình thế tương quan lực lượng quá chênh lệch nên khu vực đóng quân của nghĩa quân N’Trang Gưh rơi vào tay giặc, chúng đã bắt và giết thủ lĩnh N’Trang Gưh. Sau khi N’Trang Gưh mất, phong trào đấu tranh đi vào thoái trào và kết thúc.

Phong trào yêu nước của Nghĩa quân N’Trang Gưh đã thực sự là ngòi nổ kích hoạt phong trào chống giặc giữ làng của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên. Phong trào khởi nghĩa do N’Trang Gưh lãnh đạo phát triển mạnh mẽ nhưng cuối cùng đã bị thất bại, thực dân Pháp ngày càng tăng cường thống trị Tây Nguyên. Tuy nhiên, tinh thần đấu tranh chống kẻ thù vẫn luôn bền bỉ, đợi thời cơ tiếp tục bùng lên đấu tranh. Chính vì vậy, khi thủ lĩnh N’Trang Lơng đứng lên đấu tranh, nhân dân các dân tộc trong vùng căn cứ Nâm Nung đã sẵn sàng đứng lên cùng đấu tranh chống kẻ thù xâm lược trong những năm 1912-1936.

N’Trang Lơng sinh khoảng năm 1870, gốc người M’nông Biêt. Từ khi đứng lên đánh Pháp, N’Trang Lơng đã tập hợp được nhiều thủ lĩnh, đầu làng của đồng bào các dân tộc như B’Heng Reng, R’Đing, R’Ong Leng, N’Xinh. Họ là những thủ lĩnh yêu nước, là những cánh tay đắc lực của N’Trang Lơng. N’Trang Lơng cùng các thủ lĩnh tiến hành xây dựng căn cứ địa kháng chiến tại thung lũng rừng già Bu Siết (tức B Jeng Kiet hay Bu Jang Chet) giáp ranh với Bu N’Drung ở thượng nguồn suối Buk Xô thuộc núi Nâm Nung. Đây là cơ quan đầu não của nghĩa quân, với lực lượng từ 150-170 tay súng. Phần lớn nghĩa quân là người M’nông Biêt và M’nông Nông do N’Trang Lơng trực tiếp chỉ huy. Họ xây dựng lán trại, kho lương, nhà chứa vũ khí, đào hầm, cắm chông gài bẫy xung quanh căn cứ. Bên cạnh căn cứ là những nương rẫy trồng lúa, bắp để thực hiện nhiệm vụ tự túc lương thực cho nghĩa quân chiến đấu.

Cuối năm 1908, Henri Maitre được chỉ định cầm đầu “Phái bộ khảo sát – hành chính Đông Cao Miên”. Hắn ra sức khủng bố giết chóc đồng bào Tây Nguyên, đàn áp buôn làng. Khi đánh phá quê hương N’Trang Lơng, Henri Maitre đã bắt bớ, hãm hiếp vợ và con gái ông. Để trả nợ nước, thù nhà, N’Trang Lơng đứng lên lãnh đạo nhân dân các dân tộc M’nông, Ê đê đấu tranh. Phong trào mở đầu bằng trận đánh đồn Pu Sra giành thắng lợi vào năm 1912. Chiến thắng Pu Sra làm nức lòng dân chúng và làm tên tuổi N’Trang Lơng vang dội khắp Tây Nguyên.

Vào mùa khô 1913-1914 trên cao nguyên M’nông, phong trào xây dựng làng chiến đấu chuẩn bị chống giặc diễn ra rầm rộ, đặc biệt trong nguồn sông Đắk Huich. Ngày 30/7/1914, N’Trang Lơng đã lập mưu, dựng nên lễ “kết minh” tiêu diệt tên Henri Maitre và đồng bọn của hắn. Ngày 31/7/1914, N’Trang Lơng lãnh đạo nghĩa quân tiến đánh đồn Bu Mêra, tiêu diệt toàn bộ lính và chỉ huy còn lại trong đồn, nghĩa quân thu toàn bộ vũ khí và đồ tiếp tế của địch.

Năm 1915, sau chiến thắng Bu Tiên, N’Trang Lơng cùng nghĩa quân tiếp tục giành nhiều chiến thắng. Vì thế, quân Pháp co hẳn về vùng châu thổ tỉnh Kratie – Cao Miên, lập một hành lang an toàn gồm các đồn do các đội khố xanh để chặn đường nghĩa quân đánh xuống vùng châu thổ. Cả một vùng M’nông rộng lớn thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp trong thời gian dài (1916-1927).

Năm 1928, thực dân Pháp lộ rõ âm mưu chính thức xâm chiếm trở lại cao nguyên M’nông, chúng tập trung ra sức tìm  diệt N’Trang Lơng. Trong những năm 1918-1934, phong trào khởi nghĩa do N’Trang Lơng lãnh đạo vẫn liên tục nổ ra, thách thức và chiến đấu chống thực dân Pháp quyết liệt.

Tháng 10/1931, tên Patkiê – toàn quyền Đông Dương và Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương trực tiếp chỉ đạo thực hiện kế hoạch tiêu diệt bằng được phong trào khởi nghĩa do N’Trang Lơng lãnh đạo. Trước tình thế bất lợi đó, để bảo toàn lực lượng, N’Trang Lơng cùng các thủ lĩnh quyết định rút quân về dãy núi Nâm Nung lập căn cứ kháng chiến. Tại đây, nghĩa quân đã xây dựng căn cứ kháng chiến, đào hầm chông, giếng chông làm bẫy đá, bẫy chông… tạo thành một địa bàn “bất khả xâm phạm”. Ngoài ra, nghĩa quân còn tham gia trồng trọt, tự túc về lương thực, thực phẩm, đồng thời làm điểm tụ quân, xuất quân đánh địch. Tại đây, N’Trang Lơng và các thủ lĩnh nghĩa quân đã kêu gọi đồng bào bản địa cùng tham gia kháng chiến, bỏ làng vào rừng, bất hợp tác với giặc Pháp. Đồng bào đã hăng hái, sẵn sàng tham gia cùng nghĩa quân N’Trang Lơng chiến đấu chống kẻ thù.

Trong hai tháng 2 và tháng 3/1933, thực dân Pháp huy động lực lượng lớn, có pháo binh yểm trợ, từ nhiều hướng mở cuộc càn quét với quy mô lớn, tiến công vào căn cứ Nâm Nung – một trong những căn cứ quan trọng của nghĩa quân N’Trang Lơng. Cánh quân thứ nhất do tên Gerber chỉ huy, xuất phát từ Bu Đengum tiến đánh vào phía Đông núi Nâm Nung; cánh quân thứ hai, xuất phát từ căn cứ Lơrôlăng của Pháp (bên kia biên giới Campuchia) đánh vào hướng Tây Nam núi Nâm Nung; cánh quân thứ ba, xuất phát từ Bù Đốp (Đông Nam bộ) tiến đánh vào phía Nam núi Nâm Nung. Trong cuộc càn quét này, giặc Pháp vừa tấn công bằng quân sự, vừa đốt phá nương rẫy, buôn, bon và rừng núi của người M’nông tại vùng căn cứ Nâm Nung để triệt nguồn lương thực, nhằm dồn đồng bào M’nông và nghĩa quân N’Trang Lơng vào cảnh thiếu đói. Nghĩa quân N’Trang Lơng chống trả giặc Pháp rất quyết liệt. Nhiều trận đánh diễn ra tại vùng căn cứ Nâm Nung, tiêu diệt hàng trăm tên địch. Cuộc chiến giằng co, kéo dài, phong trào khởi nghĩa N’Trang Lơng vẫn liên tiếp đánh địch ở nhiều nơi.

Bước vào mùa khô 1934-1935, khắp cao nguyên M’nông, đồng bào M’nông, Ê đê và S’tiêng lại nổi lên rào làng, dấp rừng chống Pháp. Cuộc đối đầu ngày càng quyết liệt giữa nghĩa quân N’Trang Lơng và giặc Pháp. Giặc Pháp truy lùng ráo riết buộc nghĩa quân phải không ngừng di chuyển, nhưng khi giáp mặt với quân thù, nghĩa quân chiến đấu rất anh dũng. Từ đầu tháng 5/1935, chúng tung quân ra sức truy lùng nghĩa quân N’Trang Lơng, bất chấp các cơn mưa đầu mùa xối xả, núi cao, rừng sâu. Trong hoàn cảnh đó, N’Trang Lơng tạm lánh về quê cũ, ẩn náu trong một vùng rừng gần Bu Par, chuẩn bị lực lượng tiếp tục chiến đấu chống kẻ thù. Tuy nhiên, do bị tên phản bộ Bơ Mpông Phê chỉ điểm và đưa quân Pháp đến bao vây. Tại đây, diễn ra trận chiến đấu, bất ngờ và không cân sức, ông bị quân Pháp bắn bị thương và mất ngày 23/5/1935.

N’Trang Lơng hi sinh, nghĩa quân của ông vẫn tiếp tục chiến đấu chống thực dân Pháp trên cao nguyên M’nông. Phong trào khởi nghĩa N’Trang Lơng đi vào thoái trào và đánh dấu kết thúc vào năm 1936. Ảnh hưởng của phong trào khởi nghĩa N’Trang Lơng, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên lại đứng lên đấu tranh chống kẻ thù. Kiên cường, bất khuất, phong trào này lắng xuống, phong trào khác lại nổi lên, người trước ngã người sau tiếp bước, cuộc chiến đấu của nhân dân Tây Nguyên lúc sôi nổi, mãnh liệt, lúc tạm thời âm ỉ chờ thời cơ lại bùng lên với khí thế mạnh liệt hơn. Tuy nhiên, do thiếu một đường lối lãnh đạo đúng đắn, nên những cuộc đấu tranh đó vẫn chưa đưa lại kết quả thắng lợi cuối cùng.

Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945

Phong trào đấu tranh dưới sự lãnh đạo của những thủ lĩnh yêu nước như Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng, N’Trang Gưh, N’Trang Lơng, Săm Brăm,… diễn ra rất anh dũng song cuối cùng đều thất bại. Điều đó cho thấy, cách mạng Việt Nam còn thiếu đường lối lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930, là bước ngoặt lịch sử, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước và vai trò lãnh đạo của một chính Đảng cách mạng Việt Nam.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố thành lập, thực dân Pháp ở Đông Dương càng ra sức đàn áp, khủng bố và bóc lột nhân dân ta. Ở Tây Nguyên, thực dân Pháp đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa, tiếp tục thành lập, xây dựng và mở rộng các đồn điền trồng lúa, chè, cà phê, cao su… Công nhân ở các đồn điền này là những người Êđê, M’nông, các dân tộc bản địa khác và người Kinh. Các chủ đồn điền người Pháp bóc lột công nhân, bần cùng hóa công nhân, biến họ thành lao động khổ sai tại các đồn điền của chúng.

Vởi bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, lực lượng công nhân tại các đồn điền của Pháp đã từng bước giác ngộ về quyền lợi giai cấp, đoàn kết chặt chẽ cùng đấu tranh giành quyền dân sinh, dân chủ, góp phần vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phong trào công nhân tại các đồn điền của tư bản Pháp ở Nam Tây Nguyên, tuy chưa có sự lãnh đạo trực tiếp của các cơ sở đảng, nhưng vẫn là một bộ phận của cuộc vận động giải phóng dân tộc do Đảng lãnh đạo.

Những cao trào cách mạng diễn ra ở miền xuôi đã tạo ra và rèn luyện đội ngũ cán bộ của cách mạng đông đảo. Hàng nghìn chiến sĩ cách mạng bị bắt, bị đày ải qua các nhà tù đế quốc, trong đó có nhiều chiến sĩ cộng sản ưu tú, có trình độ, kinh nghiệm tuyên truyền và khả năng tập hợp, tổ chức quần chúng. Trong các lao tù, thực dân Pháp thực thi chính sách giam cầm và tra tấn các tù nhân chính trị, các chiến sĩ cách mạng vô cùng dã man và hiểm độc, hòng tiêu diệt phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam.

Trong đó, thực dân Pháp đã dựng lên một hệ thống các nhà tù ở Trung Kỳ và Tây Nguyên nhằm khai thác sức lao động khổ sai phục vụ cho việc mở đường, lập đồn điền và độc ác hơn là lấy khí hậu khắc nghiệt “rừng thiêng nước độc” để tiêu diệt ý chí cách mạng, lấy đói rét, bệnh tật để giết chết các tù nhân chính trị.

Năm 1940, do số lượng tù chính trị tại nhà đày Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) ngày càng đông và để phục vụ việc thi công tuyến đường qua cao nguyên M’nông, thâm hiểm hơn là hằm thủ tiêu những chiến sĩ yêu nước, kiên cường của cách mạng Việt Nam, thực dân Pháp lập thêm một nhà ngục tại Đắk Mil (thuộc tỉnh Đắk Lắk).

Đầu năm 1941, đoàn tù đầu tiên bị đày tới ngục Đắk Mil là các tù chính trị từ nhà đày Buôn Ma Thuột. Để tiếp tục đấu tranh tại ngục Đắk Mil, các tù nhân đã lựa chọn và bầu ra Ban chỉ đạo đầu tiên của nhà ngục gồm các đồng chí Trần Văn Quang, Nguyễn Tạo, Kinh, Hòa, Tring, Bửu, Toàn… Ban chỉ đạo đề ra chủ trương trong giai đoạn này là nhanh chóng chuẩn bị chiến đấu, chống đàn áp, bảo vệ quyền lợi tù nhân và tổ chức vượt ngục.

Phong trào đấu tranh của các chiến sĩ cộng sản tại đây đã giành nhiều thắng lợi, như: Đầu năm 1942, tù nhân đấu tranh thắng lợi, tổ chức được Tết đầu tiên tại nhà ngục, tù nhân được nghỉ 3 ngày, được diễn tuồng, ngâm thơ, đánh cờ tướng và trang trí câu đối Tết; cuối tháng 6/1942, tù nhân ngục Đắk Mil thành công trong việc phá lò gạch của địch, khoảng 38.000/40.000 viên gạch ra lò bị hỏng, góp phần phá vỡ kế hoạch mở rộng nhà ngục của địch,… Những chiến sĩ cộng sản không chỉ biến nhà tù thành trường học đấu tranh cách mạng, rèn luyện khí tiết mà hơn thế nữa, vượt ra khỏi chế độ lao tù hà khắc, họ đã gieo những hạt giống đó, những tư tưởng cộng sản trên mỗi mảnh đất quê hương nơi các đặt chân tới.

Chính việc thực dân Pháp tăng cường đày ải tù chính trị cộng sản lên Tây Nguyên, dù muốn hay không chúng đã đưa những người có tư tưởng cộng sản đến với mảnh đất, với quần chúng chưa giác ngộ lý tưởng đấu tranh cách mạng.

Hoạt động của các tổ chức và phong trào đấu tranh cách mạng trong tù vượt qua sự ngăn chặn, bưng bít của kẻ thù, đến với đồng bào các dân tộc, thổi bùng ngọn lửa đấu tranh cách mạng luôn âm ỉ trong những người con của núi rừng Tây Nguyên.

Phong trào đấu tranh của  các dân tộc Tây Nguyên, với nhân dân trên địa bàn Nâm Nung chịu ảnh hưởng và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản qua phong trào đấu tranh của chiến sĩ cách mạng tại nhà đày Buôn Ma Thuột và nhà ngục Đắk Mil. Được sự giác ngộ của các chiến sĩ cộng sản, có những người từng là cai tù, binh lính trước đây theo Pháp đã bỏ ngũ đi theo cách mạng, giữ vị trí quan trọng và có nhiều đóng góp cho Đảng, cho nhân dân, như ông Quản Lé (tức đồng chí YBih Alêo).

Năm 1943 chi bộ cộng sản được thành lập trong nhà ngục Đắk Mil do đồng chí Nguyễn Tạo làm Bí thư. Chi bộ cộng sản đã lãnh đạo phong trào đấu tranh tại nhà ngục Đắk Mil, điển hình là tổ chức các cuộc vượt ngục, đưa một số chiến sĩ cách mạng tiếp tục hoạt động cách mạng.

Tháng 3/1943, cuộc vượt ngục đầu tiên thành công, đưa các đồng chí Nguyễn Tạo, Trương Vân Lĩnh, Chu Huệ, Trần Ngọc Oánh về với cách mạng, tiếp tục hoạt động. Đây là một thành công lớn, đánh dấu một bước tiến mới trong việc tổ chức bộ máy lãnh đạo cách mạng đối với tù chính trị trên địa bàn Tây Nguyên.

Cuộc vượt ngục Đắk Mil lần thứ hai gồm các đồng chí Nguyễn Khải, Trần Tống, Vũ Nhân vào năm 1943. Tuy thực dân Pháp đã bắn chết 4 tù nhân đẩy xe đưa các đồng chí vượt ngục để khủng bố tinh thần tù nhân, nhằm ngăn chặn các vụ vượt ngục tiếp theo nhưng đã đánh dấu sự thất bại trong âm mưu của thực dân Pháp. Vì vậy, vào cuối năm 1943, thực dân Pháp đã chuyển toàn bộ số tù nhân ở đây về nhà đày Buôn Ma Thuột và cho phá hủy nhà ngục Đắk Mil.

Thất bại của thực dân Pháp ở Đắk Mil chứng tỏ rằng, chính sách khủng bố cực kỳ dã man của kẻ thù không thể ngăn trở được bước tiến của cách mạng mà trái lại đã rèn luyện người tù cộng sản càng thêm vững vàng, bền bỉ quyết chí đấu tranh đến thắng lợi cuối cùng. Ngục Đắk Mil chính là “gậy ông đập lưng ông”, chính nơi xa xôi hẻo lánh của ngục Đắk Mil đã nhóm lên ngọn lửa cách mạng của Đảng ở Đắk Mil. Ngọn lửa cách mạng đã lan truyền cho những phong trào, những thắng lợi to lớn của vùng Đắk Nông trong những giai đoạn kế tiếp.

Từ cuối năm 1943, Pháp đưa những chiến sĩ cách mạng từ nhà ngục Đắk Mil về giam ở nhà đày Buôn Ma Thuột. Tại đây, những tù nhân chính trị tiếp tục tổ chức đấu tranh với nhiều hình thức, góp phần tạo nên một đội ngũ cán bộ cốt cán, kiên trung, được trải nghiệm trong đấu tranh cách mạng, để cùng toàn dân tộc làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 vĩ đại!.

Bước sang năm 1945, tình hình thế giới và trong nước có những chuyển biến thuận lợi cho phong trào cách mạng ở Đông Dương. Trước nguy cơ thất bại hoàn toàn, ngày 9/3/1945, phát xít Nhật tiến hành đảo chính, thay thế thực dân Pháp cai trị Đông Dương. Lúc này, Đảng ta xác định kẻ thù trực tiếp, trước mắt của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật và tay sai. Tháng Tám năm 1945, sau khi đánh bại phát xít Đức, Liên Xô tuyên chiến với Phát xít Nhật đánh tan đạo quân Quan Đông thiện chiến hơn một triệu tên của Nhật. Ngày 14/8/1945, Nhật hoàng phải tuyên bố đầu hàng Đồng Minh và Liên Xô không điều kiện.

Tại Đông Dương, tinh thần lực lượng quân đội Nhật suy sụp, chính quyền tay sai hoang mang cực độ. Thời cơ tổng khởi nghĩa đã đến. Trung ương Đảng và Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng ra lệnh tổng khởi nghĩa toàn quốc, giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 12/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, phát động cao trào kháng Nhật cứu nước trên toàn quốc.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp, theo chủ trương của Trung ương Đảng, ở Đắk Lắk nói chung, trên địa bàn Đắk Nông nói riêng đã đẩy mạnh cao trào kháng Nhật cứu nước, chuẩn bị mọi điều kiện tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền. Chi bộ cộng sản và các tổ chức cách mạng trong nhà đày Buôn Ma Thuột chủ trương tăng cường công tác tuyên truyền, giải thích đường lối, nhiệm vụ cách mạng, tiếp tục xây dựng cơ sở cách mạng, chống lại những luận điệu tuyên truyền phản động của phát xít Nhật và tay sai.

Ngày 23/8/1945, tại huyện lỵ Đắk Mil trong cuộc mít tinh của đông đảo quần chúng nhân dân trên địa bàn, đại diện Mặt trận Việt Minh huyện tuyên bố xóa bỏ chính quyền tay sai bù nhìn, thành lập Ủy ban cách mạng lâm thời huyện.

Đúng 15 giờ ngày 24/8/1945, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các chi bộ Đảng, 3.000 quần chúng cách mạng và gần 500 binh lính có vũ trang người M’nông, Êđê, Gia Rai đã đi theo cách mạng, từ các địa phương nhân dân đã hăng hái tham gia vào cuộc mít tinh, biểu tình lớn lật đổ chính quyền thực dân, phong kiến ở thị xã Buôn Ma Thuột. Đại diện Mặt trận Việt Minh tỉnh tuyên bố xóa bỏ chính quyền tay sai phản động của phát xít Nhật và thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân lao động, kêu gọi các tầng lớp nhân dân trong tỉnh ủng hộ chính quyền, tham gia xây dựng cuộc sống mới. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tại thị xã Buôn Ma Thuột thành công.

Tại các huyện, buôn, bon trong tỉnh Đắk Lắk,… dưới sự lãnh đạo của cán bộ, hội viên Việt Minh, nhân dân đứng lên giành chính quyền thắng lợi.

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công tại Đắk Lắk (bao gồm tỉnh Đắk Nông), góp phần vào thắng lợi chung của nhân dân cả nước. Thắng lợi này là kết quả cụ thể của cả một quá trình tuyên truyền, vận động của các chiến sĩ cách mạng, các đảng viên thuộc các chi bộ nhà đày Buôn Ma Thuột và nhà ngục Đắk Mil, là sự giác ngộ và tích cực hưởng ứng cao trào cách mạng do Đảng lãnh đạo, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Mặt trận Việt Minh.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nhân dân các dân tộc trên địa bàn Nâm Nung cùng nhân dân trong tỉnh Đắk Lắk hăng hái tham gia xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng từ cấp huyện, tổng đến các buôn, bon, thực hiện các chương trình của Mặt trận Việt Minh, bảo vệ chính quyền cách mạng, giữ gìn trật tự trị an, trừng trị bọn phản động.

Nhiều cơ sở cách mạng trên địa bàn được tham dự các lớp đào tạo cán bộ do Việt Minh tỉnh, huyện tổ chức. Sau khi kết thúc các lớp học đã trở về các buôn làng để xây dựng, củng cố chính quyền và các đoàn thể cách mạng cấp cơ sở, vận động nhân dân tham gia hạ đài kỷ niệm H.Maitre do Pháp dựng nên, xây dựng đài kỷ niệm N’Trang Lơng ở vùng ba ranh giới Bu Prăng và góp phần xây dựng đài tưởng niệm các chiến sĩ cách mạng đã hy sinh tại nhà ngục Đắk Mil và nhà đày Buôn Ma Thuột; xây dựng và phát triển các tổ chức đoàn thể quần chúng như Hội Thanh niên cứu cuốc, Hội Phụ nữ cứu quốc…

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát động phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, có nhiều cải tiến kỹ thuật làm nương rẫy, tổ chức làm lúa nước, tập kéo cày bằng sức trâu bò, tổ chức đánh cá, săn bắt để cải thiện thêm đời sống. Chính quyền cách mạng bãi bỏ các thứ thuế của chế độ thực dân phong kiến như thuế thân, thuế voi và các chế độ sưu dịch nặng nề. Tổ chức bán muối, gạo cho nhân dân, trao đổi hàng hóa, chủ yếu là nông, lâm, thổ sản đưa về miền xuôi buôn bán, đổi hàng hóa đem về phục vụ lại nhân dân địa phương.

Làm theo lời Bác, cùng cả nước thi đua diệt giặc dốt, nhân dân Nâm Nung và các vùng lân cận trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk tích cực hưởng ứng phong trào bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ. Các tàn tích của thực dân để lại được vận động xóa bỏ. Cán bộ các trạm y tế đã xuống tận các tổng, thôn, buôn để phục vụ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, Đảng bộ và chính quyền cách mạng tỉnh, huyện, nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã phát huy nhiệt tình cách mạng, bước đầu thực hiện có kết quả một số nhiệm vụ cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội góp phần vào thắng lợi chung của phong trào cách mạng của Tây Nguyên.

Thời gian này, chính quyền cách mạng tỉnh Đắk Lắk đã vận động được nhiều nhân sĩ, trí thức, công chức và cả các vị chỉ huy, binh lính người dân tộc thiểu số đã từng làm cho Pháp như: YBih Alêo, Y Blốc ÊBan, Y Blô, Y Wang, Y Ngông… tham gia chính quyền cách mạng càng làm tăng thêm niềm tin của nhân dân trong tỉnh vào chế độ mới. Tháng 10/1945, nhằm thực hiện các chủ trương tăng cường hơn nữa đoàn kết các dân tộc, tại Buôn Ma Thuột, Ủy ban hành chính miền Nam Trung bộ tổ chức “Hội chợ liên hoan đoàn kết giữa các dân tộc”, nhân dân trên địa bàn hăng hái tham dự trong không khí sôi động, đoàn kết dân tộc, đoàn kết Kinh – Thượng.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Tây Nguyên nói chung, Đắk Lắk nói riêng là thắng lợi của việc thực hiện sáng tạo đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống thực dân đế quốc và chống phong kiến, tập hợp, đoàn kết các dân tộc, trên nền tảng liên minh công nông. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng đã đánh giá đúng tình hình cụ thể của địa phương, nhạy bén nắm và hành động đúng thời cơ.

Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945, nhân dân Tây Nguyên càng củng cố thêm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, càng nhận thức sâu sắc là chỉ có đi theo con đường cách mạng do Đảng vạch ra mới thoát khỏi cảnh nô lệ lầm than, tiến tới giải phóng đất nước, xây dựng cuộc sống bình yên, hạnh phúc

Cùng cả nước tiếp tục cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai (1946-1954)

Cũng từ năm 1950, Trung ương Đảng đã chủ trương chuyển sang giai đoạn tổng phản công. Không khí cách mạng trên địa bàn căn cứ Nâm Nung hòa cùng không khí sôi động của các tỉnh Tây Nguyên, các cơ sở cách mạng đã được xây dựng trong các buôn, bon người M’nông, Êđê. Phong trào chống xâu, chống thuế lên cao, đặc biệt là phong trào diệt ác, trừ gian trên địa bàn đã gây tác động mạnh mẽ đối với bọn tề, ngụy tại địa phương.

Trong giai đoạn chuyển sang tổng phản công địch, các đoàn thể quần chúng như thanh niên, phụ nữ ở Nâm Nung được tổ chức xây dựng và phát triển. Một số cuộc đấu tranh trực diện với địch đã nổ ra. Qua các cuộc đấu tranh này đã lựa chọn được hàng ngũ cán bộ cốt cán đưa vào đào tạo nhằm tăng cường cán bộ cho các cơ sở xã, buôn, bon trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Tại đây, một trung đội du kích được thành lập (tuyển chọn một số thanh niên người M’nông), vận động nhân dân rào làng chiến đấu, đưa một số buôn làng đấu tranh bất hợp pháp với tề ngụy ở địa phương. Lực lượng vũ trang bí mật đã hỗ trợ đắc lực cho các cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân.

Trước khí thế cách mạng và sự hoạt động kiên trì, táo bạo và khéo léo của đội VT3.124, nhiều tên vốn là lính của Pháp tham gia trong hệ thống chính quyền thực dân tại Nâm Nung đã được cách mạng cảm hóa, từ bỏ con đường làm tay sai cho giặc. Đi theo cách mạng; nhiều người dân ở địa phương trên địa bàn Đắk Mil đã hy sinh để bảo vệ đội, như Y Muôn Blô bị giắc Pháp bắt đem ra đường 14 chặt hết chân tay vẫn không khai về nơi đóng quân của đội VT3.124, nữ du kích H’Mai chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và hy sinh bên bờ suối Đắk Đam để bảo vệ đội,…

Đến cuối năm 1950, cơ sở cách mạng được mở rộng ra 5 xã (Đắk Lô, Đắk Đam, Đắk La, Đắk Sua, buôn Bu róa). 5 chi bộ đảng đầu tiên ở Đắk Mil được thành lập. Các căn cứ lớn được hình thành và tạo một mạng lưới liên kết giữa lực lượng chiến đấu của Đắk Mil với lực lượng hoạt động ở địa bàn Đông Campuchia. Các cơ sở 5 xã xây dựng được lực lượng du kích, đào hầm chông, cài bẫy đá, rào buôn để chống địch, cùng một số buôn cơ sở khác tiến hành bất hợp tác với địch.

Giữa năm 1951, cơ quan tiền phương của tỉnh Đắk Lắk do đồng chí Lê Vụ, Phó Bí thư ban cán sự trực tiếp lãnh đạo công tác xây dựng cơ sở ở huyện Đắk Mil. Cùng với cán bộ cơ sở, đội vũ trang tuyên truyền VT3.124 quay trở lại Đắk Mil hoạt động. Từ cuối năm 1951, đầu năm 1952, trên địa bàn Nâm Nung đã hình thành các tổ chức cơ sở đảng. Cụ thể như bon Đắk Prí có 7 đảng viên do đồng chí Ama Beo làm Bí thư, bon R'cập có 4 đảng viên do đồng chí  Y Lớ làm Bí thư, bon Jriah có 4 đảng viên do đồng chí Ama Hùng làm Bí thư.

Tháng 4/1952, thực hiện chung của Đảng, dưới sự lãnh đạo của Ban cán sự đảng tỉnh Đắk Lắk, các tổ chức cơ sở đảng trên địa bàn Nâm Nung đã thực hiện tốt đợt chỉnh Đảng, chỉnh quân lần đầu tiên nhằm làm cho mọi chiến sĩ và đảng viên nhận rõ tính cách toàn dân, toàn diện, trường kỳ, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đội vũ trang tuyên truyền VT3.124 và các tổ chức cơ sở đảng tại Nâm Nung đã quyết tâm phải bám đất, bám dân, gây cơ sở cách mạng trong lòng địch, phát động chiến tranh du kích và hỗ trợ phong trào nổi dậy đấu tranh chống địch của đồng bào các dân tộc tại địa phương.

Các đồng chí đảng viên, chiến sĩ đội vũ trang tuyên truyền đã tự nguyện học tiếng M’nông, Êđê, thực hiện đóng khố, xăm tai, mang gùi, để tóc dài, hòa mình vào quần chúng để hoạt động và che mắt địch. Các chi bộ hoạt động tại vùng Nâm Nung nhắc nhớ các cán bộ, đảng viên và chiến sĩ hoạt động ở địa phương phải chú ý tìm hiểu về phong tục, tập quán của các dân tộc tại địa phương. Nhiều tấm gương cán bộ tiêu biểu như các đồng chí Nguyễn Tùy (năm Tùy), Lê Văn Cát (Ba Đạo)… đã kiên trì học tiếng M’nông, Êđê, cùng ăn cháo chua, đóng khố, cùng phát rẫy với đồng bào ở các buôn làng, qua đó tuyên truyền, vận động, giác ngộ quần chúng, xây dựng và phát triển các cơ sở cách mạng ở trong vùng.

Cuộc kháng chiến của quân và dân ta ngày càng phát triển, quân Pháp ngày càng rơi vào thế bị động, lúng túng trên các chiến trường. trong tình hình đó, tháng 5/1953, Chính phủ Pháp cử tướng Nava sang làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chính Pháp tại Đông Dương với hy vọng cứu vớt danh dự cho nước Pháp, Nava vạch ra một số kế hoạch quân sự mang tên “Kế hoạch Nava” với tham vọng trong vòng 18 tháng sẽ tạo ra một cục diện chiến trường có lợi thế cho Pháp. Riêng trên chiến trường Liên khu V, theo “Kế hoạch Nava”, quân Pháp mở “Chiến dịch Átlăng” nhằm tấn công toàn diện vào Tây Nguyên và vùng tự do của ta trên toàn Liên khu. Nava đặt hy vọng vào chiến dịch này. Theo các tướng lĩnh Pháp ở Đông Dương lúc bấy giờ, thành bại của chiến dịch Átlăng sẽ quyết định một phần quan trọng trong toàn bộ “Kế hoạch Nava” của thực dân Pháp.

Một góc thôn Đắk Thanh, xã Nam Xuân (Krông Nô) hôm nay. Ảnh: A Trư

Tháng 11/1953, Trưng ương Đảng chính thức đề ra nhiệm vụ cho Liên khu V là phải ra sức tiêu diệt sinh lực địch, phá tan chiến dịch Átlăng, mở rộng căn cứ, bảo vệ vùng tự do, phối hợp đắc lực với chiến trường chính theo hướng tích cực và mạnh dạn phát triển lực lượng vào tây Nguyên, đồng thời tiếp tục củng cố vùng tự do của Liên khu V. Trung ương Đảng nhấn mạnh: Đối với chiến trường Liên khu V nhiệm vụ phát triển vào Tây Nguyên phải coi là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất và nhiệm vụ củng cố vùng tự do phải coi là nhiệm vụ quan trọng thứ hai.

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, tháng 12/1953, Hội nghị Liên khu ủy V và Đảng ủy Bộ Tư lệnh Liên khu V đã quyết định tập trung toàn bộ lực lượng bộ đội chủ lực của ta tiến công quân Pháp ở Tây Nguyên, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích, gây rối lực lượng của chúng trên địa bàn.

Trên đà phát triển của cách mạng cả nước nói chung và Tây Nguyên nói riêng, quân và dân tại vùng kháng chiến Nâm Nung bước vào cuộc Tổng tiến công chiến lược Đông – Xuân (1953-1954) với một khí thế mới. Ban Cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk tiến hành phân công, bố trí các đội vũ trang tuyên truyền xúc tiến việc phát động chiến tranh du kích trong lòng địch, kết hợp với binh vận để phá kế hoạch tăng cường bắt lính của chúng. Nhiều cán bộ quân dân chính của tỉnh được tăng cường về hoạt động tại Nâm Nung.

Các tổ chức cơ sở đảng, các lực lượng vũ trang và tổ chức quần chúng ở Nâm Nung thực hiện nhiệm vụ: Khẩn trương xây dựng tổ chức du kích tại buôn, bon, tổ chức huấn luyện cho du kích, xây dựng buôn chiến đấu; phối hợp với mặt trận phía trước, các tổ chức công tác tuyên truyền vũ trang bám chắc vào các buôn làng người M’nông, Ê đê, tổ chức cho quần chúng đấu tranh chống địch cà quét, vận động binh lính chống lệnh đi càn hoặc tìm cách báo cáo cho các cơ sở cách mạng tại chỗ của ta biết trước được kế hoạch càn quét của chúng để du kích địa phương phục kích đánh địch.

Phong trào cách mạng ở Tây Nguyên và địa bàn Nâm Nung trong chiến dịch Đông – Xuân (1953-1954) phát triển mạnh mẽ. Phong trào diệt ác, phá kìm của ta phát triển mạnh hơn trước. Các đại đội độc lập, đại đội tăng cường của Tỉnh đội Đắk Lắk đã bám đánh địch trên các tuyến đường lớn và tấn công các đồn bốt của chúng đóng trên địa bàn nhằm phối hợp với chiến trường trong toàn Liên khu V và cả nước đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi đến thắng lợi. Phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân các dân tộc dưới các hình thức đấu tranh như đòi chồng, con bị giặc bắt đi lính trở về với gia đình, càng làm cho tinh thần của binh lính ngụy thêm hoang mang, dao động và rệu rã. Giải phóng được đến đâu, cán bộ, đảng viên của ta bắt tay ngay vào việc xây dựng chính quyền cách mạng tới đó, vì vậy vùng giải phóng của ta ngày càng được mở rộng.

Ngày 7/5/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tin chiến thắng nhanh chóng lan truyền khắp Tây Nguyên, động viên quân và dân Tây Nguyên đánh giặc, cùng cả nước đẩy mạnh tiến công, tiêu diệt địch, giải phóng quê hương.

Ngày 21/7/1954, hiệp đinh Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta kết thúc thắng lợi. Ở Tây Nguyên, các tổ vũ trang tuyên truyền còn ở trong các buôn của đồng bào các dân tộc tại Nâm Nung nhanh chóng tuyên truyền về chiến thắng to lớn của dân tộc ta. Nhân dân được tin chiến thắng của quân ta ở Điện Biên Phủ đã vô cùng phấn khởi, tự hào.

Ảnh tư liệu

Ngày 7/5/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tin chiến thắng nhanh chóng lan truyền khắp Tây Nguyên, động viên quân và dân Tây Nguyên đánh giặc, cùng cả nước đẩy mạnh tiến công, tiêu diệt địch, giải phóng quê hương.

Ngày 21/7/1954, hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta kết thúc thắng lợi. Ở Tây Nguyên, các tổ vũ trang tuyên truyền còn ở trong các buôn của đồng bào các dân tộc tại Nâm Nung nhanh chóng tuyên truyền về chiến thắng to lớn của dân tộc ta. Nhân dân được tin chiến thắng của quân ta ở Điện Biên Phủ đã vô cùng phấn khởi, tự hào.

Phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần kiên cường bất khuất của anh hùng dân tộc N’Trang Gưh, N’Trang Lơng… Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Tỉnh ủy lâm thời Đắk Lắk, Ban Cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk và các tổ chức Đảng chiến khu VI, sau đó là Liên khu ủy V, trực tiếp là Đảng ủy Bộ Chỉ huy Quân sự Nam Trung bộ, nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (trong đó có địa bàn Nâm Nung) nhất tề hưởng ứng theo  Đảng, không ngừng đấu tranh cho độc lập, tự do của Tổ quốc, cùng cả nước làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, mở ra cho nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trang sử mới, từ thân phận người nô lệ, nhân dân các dân tộc Đắk Lắk đã trở thành những người chủ của đất nước, được sống trong không khí của những ngày độc lập, tự do.

Bảo vệ thành quả Cách mạng tháng Tám năm 1945, chín năm chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược, cuộc chiến đấu của quân và dân trên địa bàn Nâm Nung cùng với tỉnh Đắk Lắk và cả nước đã trải qua chặng đường vô cùng khó khăn, gian khổ và hi sinh. Với một địa bàn được xem là nơi “rừng thiêng, nước độc”, một địa bàn với vô vàn những khó khăn, thiếu thốn trong cuộc sống cũng như chiến đấu, nhưng quân và dân tỉnh Đắk Lắk luôn vững vàng kiên định trong lúc thắng lợi cũng như khi khó khăn, lúc cao trào cũng như lúc thoái trào. Trong mọi hoàn cảnh, nhân dân luôn tin tưởng và đi theo Đảng, quyết chiến đấu vì lý tưởng của Đảng. Do đó, kẻ thù rất thâm độc, tàn bạo, xảo quyệt nhưng không thể khuất phục ý chí và sức chiến đấu của Đảng bộ, quân và dân Tây Nguyên cũng như quân và dân trên địa bàn kháng chiến Nâm Nung.

Kháng chiến thắng lợi nhưng thắng lợi đó còn chưa trọn vẹn, một nửa đất nước của Việt Nam vẫn chưa được giải phóng, nhân dân các dân tộc trên địa bàn kháng chiến Nâm Nung lại tiếp tục củng cố, phát huy vị thế chiến lược, từng bước trở thành căn cứ địa quan trọng, được củng cố ngày càng vững chắc. Nơi đứng chân của cơ quan lãnh đạo, nơi đóng quân chiến đấu trong suốt 21 năm trường kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của tỉnh Quảng Đức nói riêng và Tây Nguyên cùng toàn miền Nam nói chung.

Tỉnh Quảng Ðức được thành lập, đảm nhận nhiệm vụ xây dựng căn cứ và hành lang chiến lược địa bàn Nam Tây Nguyên xuống chiến trường Ðông Nam Bộ (1954-1960)

1. Phong trào đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ trên địa bàn kháng chiến Nâm Nung (1954-1958)

Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết. Theo hiệp định, lấy sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) làm giới tuyến quân sự, đất nước ta tạm thời chia làm hai miền: Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam tạm thời chịu sự kiểm soát của địch. Sau hai năm sẽ tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Với yêu cầu của hiệp định, cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ mới phải đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội và tiếp tục đấu tranh hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà.

Thực hiện âm mưu thôn tính Việt Nam, ngày 7/7/1954, Mỹ vội nhảy vào thay thế Pháp, đưa Ngô Đình Diệm về nước thay Thủ tướng của chính quyền Bảo Đại lúc đó là Bửu Lộc để từng bước lập chính quyền bù nhìn tay sai dưới quyền điều khiển trực tiếp của Đại sứ Mỹ ở miền Nam. Hiệp định Giơnevơ vừa ký kết, Mỹ - Diệm ra sức phá hoại hiệp định cùng lời tuyên bố trắng trợn “không có hiệp thương tổng tuyển cử” do “chúng không ký và không bị ràng buộc bởi hiệp định đó”.

Đối với Tây Nguyên, địa bàn Đắk Lắk chiếm vị trí rất quan trọng về cả mặt quân sự, kinh tế, chính trị, xã hội. Vì thế, chúng ra sức đầu tư xây dựng Đắk Lắk nói riêng, Tây Nguyên nói chung trở thành một trung tâm căn cứ quân sự cơ động và ra sức khai thác tiềm năng to lớn về kinh tế nhằm mục đích phục vụ cho kế hoạch xâm chiếm lâu dài miền Nam Việt Nam và cả Đông Dương.

Cuối năm 1954, Mỹ - Diệm áp dụng chế độ xâu thuế cũ của thời Pháp, bắt nộp thuế thân, đồng thời dùng chính sách mua chuộc, lừa mị đồng bào các dân tộc như đưa hàng viện trợ Mỹ. Địch gấp rút mở rộng đồn điền Đắk Mil, Đắk Song; cưỡng ép các linh mục và đồng bào theo đạo Thiên chúa miền Bắc di cư vào, lập ra các khu di cư ở Đức Minh, Đức Mạnh (Đắk Mil). Phát triển đạo Tin lành trong vùng dân tộc ít người để tạo cơ sở chính trị - xã hội cho chế độ Diệm.

Về phía ta, năm ngày trước Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị toàn thể lần thứ VI (từ ngày 15 đến ngày 17/7/1954) để bàn về tình hình nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới. Hội nghị đã khẳng định: Đế quốc Mỹ đang là kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân ta. Vì thế phải tập trung lực lượng chĩa mũi nhọn đấu tranh vào chúng để thực hiện hòa bình, thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.

Trước âm mưu và hành động của đế quốc Mỹ, ngày 22/7/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: “Đồng bào miền Nam kháng chiến trước hết, giác ngộ rất cao. Tôi chắc rằng đồng bào sẽ đặt lợi ích cả nước lên trên lợi ích địa phương, lợi ích lâu dài trên lợi ích trước mắt, mà ra sức cùng đồng bào toàn quốc phấn đấu để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc”.

Trong hai ngày 27 và 28/7/1954, Liên khu ủy Khu V đã triệu tập Hội nghị Liên khu ủy mở rộng với sự tham dự của các bí thư tỉnh ủy. Hội nghị đã đi sâu phân tích diễn biến tư tưởng của cán bộ và quần chúng nhân dân trong khu, những thuận lợi và khó khăn của ta trong tình hình mới… Từ đó, Hội nghị đề ra những nhiệm vụ cấp bách cần phải hoàn thành trước ngày 31/8/1954 (ngày bàn giao chính quyền cho đối phương theo đúng Hiệp định Giơnevơ), đó là: Tiến hành một đợt tuyên truyền giáo dục thật sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về nội dung, ý nghĩa của Hiệp định Giơnevơ , về tình hình nhiệm vụ mới, về phương châm, phương pháp đấu tranh mới; sắp xếp, bố trí lại bộ máy lãnh đạo của Đảng và các tổ chức quần chúng từ khu cho đến cơ sở phù hợp với tình hình mới; biên chế lại lực lượng vũ trang thành các trung đoàn, sư đoàn để biểu dương lực lượng và chuyển quân tập kết ra Bắc theo đúng kế hoạch.

Chấp hành sự chỉ đạo của Trung ương và của Liên khu ủy Khu V, đầu tháng 8/1954, Thường vụ Ban Cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk đã họp và đề ra ba công tác lớn của tỉnh: Thứ nhất là, công tác tập kết ra Bắc do đồng chí Lê Văn Nhiễu – Bí thư Ban Cán sự tỉnh kiêm Chính ủy Trung đoàn 84 phụ trách. Thứ hai là, công tác bàn giao chính quyền cho đối phương do đồng chí Nguyễn Khắc Tính (Ba Ban) và đồng chí K’Nơng Y Bun (Ama Khê) Thường vụ Ban cán sự tỉnh phụ trách. Thứ 3 là, công tác sắp xếp cán bộ ở lại hoạt động do đồng chí Phạm Thuần – Thường vụ Ban cán sự tỉnh phụ trách.

Giữa tháng 8/1954, lực lượng của tỉnh Đắk Lắk tập trung về Tân Vinh – khu căn cứ của miền tây Phú Yên chuyển cho Đắk Lắk xây dựng trong kháng chiến chống Pháp, để tổ chức lễ mừng chiến thắng và liên hoan chia tay giữa nhân dân và quân đội của tỉnh. Buổi lễ có trên 2.000 đồng bào dân tộc các vùng căn cứ du kích và vùng địch tạm chiếm ở các huyện về dự cùng hàng nghìn cán bộ chiến sĩ quân dân chính của tỉnh. Buổi lễ đã nói lên thắng lợi của 9 năm kháng chiến chống Pháp, thắng lợi của Hiệp định Giơnevơ và nhiệm vụ đấu tranh của nhân dân sắp đến. Sau lễ tổ chức liên hoan đoàn kết, quân dân ta đã xuất kho cấp phát cho dân muối, gạo, nông cụ cho đồng bào đến dự. Buổi lễ chia tay quân, dân đã gây một ấn tượng sâu sắc trong lòng đồng bào kéo dài đến những năm sau này. Sau buổi lễ, lực lượng vũ trang của tỉnh rút về Bình Định để cùng lực lượng các tỉnh Tây Nguyên thành lập trung đoàn chiến đấu.

Với một thời gian ngắn từ ngày 1 đến 31/8/1954, mặc dù gặp nhiều khó khăn vì triển khai các hoạt động trên một địa bàn rộng, thông tin liên lạc khó khăn, việc tập kết rút quân tiến hành gấp nhưng quân và dân Đắk Lắk đã hoàn thành đúng theo kế hoạch và thời gian quy định.

Ngày 6/9/1954, Bộ Chính trị ra Chỉ thị về tình hình mới và nhiệm vụ công tác mới của miền Nam, Chỉ thị nêu rõ: “Kẻ thù trước mắt của ta là đế quốc Mỹ, hiếu chiến Pháp và tay sai của chúng. Nhiệm vụ trước mắt của miền Nam là: Thi hành triệt để Hiệp định đình chiến (tập kết quân đội, rút quân ra Bắc). Đấu tranh đòi Pháp phải thi hành đúng Hiệp định; chuyển hướng công tác cho thích hợp với điều kiện hòa bình… sắp xếp cán bộ, bố trí lực lượng; bảo đảm vừa che giấu được lực lượng, vừa lợi dụng được những khả năng thuận lợi mới mà hoạt động để thực hiện chủ trương, chính sách và khẩu hiệu mới của Đảng; đoàn kết rộng rãi, tập hợp mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình, đấu tranh đánh đổ Chính phủ Ngô Đình Diệm, lập Chính phủ không thân Mỹ, tiến tới hiệp thương thống nhất Tổ quốc. Phương châm đấu tranh của ta lúc này là “kết hợp công tác hợp pháp và không hợp pháp, hết sức lợi dụng mọi khả năng hợp pháp và nửa hợp pháp mà tuyên truyền tổ chức lãnh đạo quần chúng đấu tranh, khéo công tác, khéo che giấu lực lượng”.

Thực hiện chỉ thị trên, sau khi lực lượng quân, dân, chính đảng của Đắk Lắk (chủ yếu là lực lượng vũ trang) đã tập trung về Bình Định để học tập chủ trương, đường lối của Đảng sau Hiệp định Giơnevơ.

Dựa vào sự chỉ dẫn của Trung ương về tình hình nhiệm vụ và phương pháp đấu tranh mới, Ban Cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk đã bố trí số cán bộ, đảng viên trên thành hai bộ phận hoạt động hợp pháp và bất hợp pháp với khoảng 120 đồng chí; cử hai bộ phận về hoạt động gây dựng cơ sở vùng Tây Nam của tỉnh: Bộ phận hoạt động hợp pháp có ba đồng chí Nguyễn Tùy (Năm Tùy) làm đội trưởng, Phạm Văn Hương và Bùi Văn Viện. Bộ phận hoạt động bất hợp pháp có năm đồng chí là :Trần Phòng (Bảy Biên) làm đội trưởng, các đồng chí Ba Đạo (Ma Nhao), Nguyễn Xuân Hòa (Ma Thu), Y Bớ (Ma Sa) và Y Đum (Ma Dút) làm đội viên.

Bộ phận hợp pháp cho thị xã Buôn Ma Thuột và các thị trấn Cheo Reo, Đắk Mil, Bản Đôn 20 đồng chí. Bộ phận bất hợp pháp cho 7 huyện nông thôn, cho cơ quan tỉnh và giao thông liên lạc gồm khoảng 100 đồng chí. Ngoài ra, tỉnh còn bố trí một số cán bộ, đảng viên người dân tộc về sống và làm việc trong nhân dân để hoạt động tại chỗ.

Ở khu vực Nâm Nung, địa chỉ được đội thâm nhập đầu tiên là bon Đru (xã Đắk Rồ, nay là xã Đắk Drô). Các đồng chí đã móc nối được với cụ gia lên là Bơ Trang (Sau là đảng viên, cha nuôi của đồng chí Trần Phòng). Thông qua cụ Bơ Trang ta tranh thủ tuyên truyền, giáo dục và xây dựng được cơ sở trong toàn bon. Anh em trong đội công tác cũng thường xuyên vận động chăm sóc, tắm rửa, cắt tóc cho trẻ em, cùng làm rẫy, trồng hoa màu với nhân dân tạo thêm nguồn lương thực. Nhờ có phương châm và phương pháp vận động phù hợp nên các cơ sở cách mạng ở đây dần dần được xây dựng và phát triển, đồng thời khôi phục được bốn cơ sở ở bốn xã vùng Nâm Nung tạo tiền đề cho việc xây dựng nơi đây trở thành vùng căn cứ đứng chân của tỉnh Quảng Đức trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Bộ phận hoạt động bất hợp pháp không nhận được sự chỉ đạo của trên nên anh em chỉ dựa vào nội dung tuyên truyền, vu khống của địch để giáo dục cho quần chúng hiểu bản chất của vấn đề và ý đồ thâm độc của kẻ thù, đồng thời bày cách cho đồng bào chống lại chúng. Đến cuối năm 1955, đội công tác gây dựng thêm được cơ sở ở các xã Đắk La (thuộc huyện Đắk Mil ngày nay) và xã Đắk Mâm, các buôn: Thu, Ma Ha, Jrah (thuộc huyện Krông Nô ngày nay), các đồng chí trong chi bộ bí mật xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng trong các buôn, xã đồng bào tại chỗ.

Để bảo đảm sự lãnh đạo thông suốt từ tỉnh đến cơ sở, các đồng chí trong đội hoạt động bất hợp pháp đã tổ chức cho anh em cải trang là người dân tộc lên bám khu vực chợ Buôn Ma Thuột để bắt liên lạc với bộ phận hoạt động hợp pháp. Cuối cùng, hai bộ phận đã gặp được nhau, nhờ đó phong trào cách mạng ở các huyện phía Nam tỉnh dần được đẩy lên, phối hợp với phong trào đấu tranh chung của tỉnh.

Việc bố trí cán bộ bám lại chiến trường là một thắng lợi lớn bước đầu, tỉnh Đắk Lắk tranh thủ thời gian địch còn sơ sở, kịp thời đưa cán bộ lên khắp các địa bàn trong tỉnh, bảo đảm được bí mật, an toàn, che giấu được lực lượng ta, địch không phát hiện được. Đặc biệt, tỉnh đã sớm bố trí được một đội ngũ cán bộ hợp pháp vào thị trấn, thị xã, tạo một thời gian dài, kết hợp giữa hai lực lượng hợp pháp và bất hợp pháp, giữa nông thôn và thành thị hỗ trợ lẫn nhau. Cán bộ hợp pháp ở lại thị xã đã phục vụ tốt cho công tác nắm tình hình địch, giải quyết được nhiều vấn đề về kinh tế tài chính cho tỉnh, phục vụ tốt cho việc xây dựng phát triển cơ sở cách mạng ở thị xã, thị trấn và nông thôn.

Năm 1955, Mỹ - Diệm cho tiến hành các hoạt động phá hoại hiệp định, như thi hành chính sách “tố cộng”, diệt cộng” với những thủ đoạn rất dã man, trắng trợn, kết hợp với dụ dỗ, lừa bịp với những phương châm “thà giết nhầm còn hơn bó sót”.

Tháng 3/1955, Diệm xóa bỏ chế độ “Hoàng triều cương thổ” của vua Bảo Đại và lập ra Tòa đại diện Chính phủ tại Cao nguyên trung phần, trụ sở đóng tại Buôn Ma Thuột. Tháng 6/1955, Ngô Đình Diệm ký ban hành chính sách “Kinh – Thượng đề huề - Quân dân nhất trí – khai thác miền sơn cước”, chúng đưa bọn tay chân mê hoặc được một số thanh niên ra làm “lễ tuyên thệ” ủng hộ thủ đoạn này, đích thân Ngô Đình Diệm chủ trì buổi lễ. Sau đó, chúng cho phép bọn ngụy quyền, tướng tá quân đội ngụy khai thác đất đai ở các vùng trù phú, lập ra các đồn điền cà phê, cao su, độc quyền khai thác nông – lâm sản.

Năm 1956, địch ra sức củng cố hệ thống tề ngụy ở cơ sở xã, buôn, bon cho các toán gián điệp, biệt kích len lỏi vào vùng căn cứ của ta để thăm dò. Dưới chiêu bài “Thượng du vận” và những buôn, bon địch đã kiểm soát, chúng tổ chức nhiều cuộc cưỡng ép đồng bào Êđê, M’nông phải khai báo những người tham gia cách mạng, che giấu, tiếp tế, nuôi dưỡng cán bộ cách mạng trước đây nhằm đánh vào cơ sở cách mạng của ta. Chúng đưa các đoàn chiêu hồi, tâm lý chiến nấp dưới hình thức các đoàn vệ sinh, y tế đi phun thuốc trừ muỗi, các lái buôn, để đi sâu vào tận các buôn làng người Thượng hoạt động dài ngày hòng tìm ra dấu vết cán bộ nằm vùng của ta trên địa bàn tỉnh. Trước tình hình đó, các buôn người Êđê, M’nông tại Nâm Nung và các buôn, bon khác đã gây dựng được sơ sở cách mạng, được giác ngộ cách mạng phát động quần chúng nhân dân không chịu lập tề - ngụy; không chịu thay đổi chủ bon, nhiều buôn, bon che giấu cán bộ của đội công tác và các cơ sở cách mạng, bảo vệ lực lượng của ta.

Công tác vận động quần chúng xây dựng phát triển cơ sở ở Đắk Lắk trong những năm 1955 đến 1956 phát triển mạnh. Một mặt ta móc nối lại số cán bộ cũ ở nông thôn, đẩy mạnh xây dựng phát triển cơ sở ở vùng đồng bào các dân tộc, mặt khác xây dựng cơ sở mới vào vùng địch, thị trấn, các đồn điền. Mỗi buôn, mỗi vùng chỉ có một vài cán bộ bám sát vào dân, quần chúng hóa, ăn ở trong dân, cùng lao động sản xuất với dân, dạy thanh niên học chữ, dùng thuốc nam chữa  bệnh cho dân. Cán bộ được dân tin, dân mến, được dân che chở khi có địch, nuôi dưỡng khi đau ốm, nhiều đồng chí được dân xem như con em trong bon, buôn, được dân thừa nhận là thành viên trong cộng đồng dân tộc ít người. Nhờ đó, ta nắm được đông đảo nhân dân, nắm được tề ngụy ở xã, buôn, nắm được cả lớp trên, già làng hình thành mặt trân đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân chống Mỹ - Diệm. Công tác binh vận thời gian này cũng làm tốt, vận động được số đông binh lính, tranh thủ được một số đồn trưởng, quận trưởng, tỉnh phó người dân tộc hướng họ có cảm tình với cách mạng, có người làm ngơ để cho nhân dân tham gia cách mạng. Các huyện phía Bắc của tỉnh có cơ sở đều khắp các buôn làng, nhiều nơi đã xây dựng được cơ sở đảng, các huyện phía Nam của tỉnh tuy còn hẹp nhưng cán bộ cũng bám được dân. Ở huyện Đắk Mil lúc đầu đứt liên lạc với tỉnh nhưng đội công tác vẫn bám xây dựng được cơ sở ở 7 xã trong huyện.

Đi đôi với xây dựng phát triển cơ sở, trong hai năm 1955 đến năm 1956 tỉnh cũng đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống địch, đem lại những quyền lợi thiết thực cho dân. Sau khi có lệnh ngừng bắn, quần chúng nhân dân đã đẩy mạnh phong trào chống xâu, chống thuế buộc địch phải bãi bỏ việc bắt dân đi xâu cho các đồn điền của chúng và bãi bỏ thuế thân, đấu tranh đòi tự do đi lại, chống khủng bố bắt người, đấu tranh đòi chồng con đi lính cho địch trở về. Hàng trăm người nhà binh lính người dân tộc ở vùng ta và cả trong vùng địch kéo lên đồn, lên quận đấu tranh với khẩu hiệu “Hòa bình rồi, phải trả chồng con về nhà làm ăn”. Cuộc đấu tranh kéo dài nhiều ngày ở các đồn bốt địch, một số cán bộ người Kinh đã cải trang cùng đi với dân vào đồn địch để trực tiếp lãnh đạo đấu tranh, kéo được một số lính trở về nhà.

Bước vào cuộc chiến đấu mới, ta có những thay đổi rất cơ bản cả thế và lực, cả phương châm và phương pháp đấu tranh. Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình; từ hoạt động công khai chuyển sang hoạt động bí mật; từ kháng chiến chống Pháp sang đấu tranh chính trị chống Mỹ - Diệm đòi thi hành hiệp định Giơnevơ.

Tháng 7/1955, hưởng ứng phong trào đấu tranh đòi hiệp thương, ở Đắk Mil có những đoàn đại biểu và quần chúng lên đồn, lên quận đưa kiến nghị đòi hiệp thương tổng tuyển cử. Trước những hoạt động phá hoại của Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu ý dân phế truất Bảo Đại (10/1955), công khai xóa bỏ Hiệp định Giơnevơ, đưa Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống Việt Nam cộng hòa, tổ chức bầu cử quốc hội riêng rẽ và ban hành hiến pháp mới (3/1956).

Nắm bắt các hoạt động của địch, tổ công tác của ta kịp thời hướng dẫn nhân dân không đi bỏ phiếu, số người bị bắt đi, ta lãnh đạo làm bẩn phiếu, rách phiếu hay bỏ cả hai phiếu vào một thùng, đồng thời tập dượt cho quần chúng nhiều phương thức đấu tranh với địch, nhiều cuộc đấu tranh chống địch của quần chúng ở các vùng liên tiếp diễn ra. Có nơi tẩy chay bầu cử bịp bợm của Diệm, cơ sở ta vận động binh lính ném lựu đạn giải tán điểm bầu cử; quần chúng các buôn làng vùng Sa Na, Yang Yú ở Đắk Mil đã giằng co, trì hoãn làm phá sản kế hoạch dồn dân vùng sâu ra trục đường 14.

Đầu năm 1957, Mỹ - Diệm chuyển lên đánh phá miền núi, chúng triển khai chiến dịch “tố cộng” ra sức dồn dân miền núi vào khu tập trung ở giáp ranh các tỉnh đồng bằng nhằm kiểm soát dân chặt chẽ hơn và đánh bật lực lượng cách mạng ra khỏi miền núi.

Ngày 22/2/1957, nhằm mục đích khuếch trương cho chính sách khai thác Tây Nguyên, Ngô Đình Diệm còn tổ chức Hội chợ triển lãm về kinh tế cao nguyên tại thị xã Buôn Ma Thuột để triển khai kế hoạch chiếm đoạt đất đai, rừng núi, bến nước của đồng bào dân tộc thiểu số, lập hệ thống các dinh điền. Trong diễn văn, Ngô Đình Diệm đã lên tiếng kêu gọi nhân dân vùng đồng bằng hãy lên định cư ở cao nguyên để khai thác vùng cao nguyên một cách nhanh nhất và nhiều nhất nhằm phục vụ cho công cuộc xâm lược và thống trị của chúng. Lời tuyên bố của Diệm tại Hội chợ đã mở đầu chiến dịch đưa người Kinh quê ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và một số tỉnh ở Nam bộ lên Tây Nguyên lập một số dinh điền. Hàng chục vạn đồng bào người Kinh, phần lớn là những người kháng chiến cũ, phải rời bỏ quê hương làng xóm thân yêu của mình lên sống ở vùng “rừng thiêng nước độc” này.

Đến tháng 5/1957, chính quyền Ngô Đình Diệm thông quan đạo luật “Đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, công khai hóa việc đàn áp cách mạng miền Nam Việt Nam”. Ngoài ra, Ngô Đình Diệm còn tiến hành một số hoạt động đưa một số chăn màn, quần áo, thuốc chữa bệnh, gạo muối… lên viện trợ cho những vùng chúng thấy có thể quy thuận được. Chúng tập trung đầu độc thanh thiếu niên, cho ăn chơi đua đòi để biến họ thành những nhân viên chỉ điểm, mật vụ làm tay sai cho chúng.

Chính quyền Diệm nhận định muốn khai hóa văn minh vùng dân tộc, phải xóa bỏ các luật tục của đồng bào các dân tộc như: Luật Sử dụng đất đai, luật Hôn thú, luật Tang lễ,… thay vào đó là luật chung của chính quyền Ngô Đình Diệm. Chúng bắt đồng bào thay đổi cách mặc, đàn ông phải bỏ khố, đàn bà phải bỏ váy, mặc quần áo như người Kinh. Để đàn áp cuộc đấu tranh của nhân dân, Diệm đưa một số đơn vị lính Nùng thuộc Sư đoàn 5 từ miền Bắc vào vùng Đắk Mil để làm áp lực cho việc xây dựng hệ thống tề ngụy các buôn, bon xã người M’nông, Êđê. Nhưng các cơ sở cách mạng của ta ở địa phương đã vận động đồng bào bất hợp tác với địch nên chúng không sao lập được tề.

Những hành động trên của Mỹ - Diệm đã làm tăng thêm mức độ trầm trọng và sâu sắc của mâu thuẫn dân tộc giữa một bên là nhân dân miền Nam, bao gồm tất cả các dân tộc, tôn giáo, đảng phái, với một bên là đế quốc Mỹ xâm lược và bọn tay sai của chúng.

Năm 1957, Đắk Lắk vốn là vùng địch hậu, trong kháng chiến phong trào cách mạng còn yếu nên các đợt “tố cộng” của địch tập trung chủ yếu vào các vùng căn cứ kháng chiến, vùng du kích cũ. Địch bắt dân làm thẻ kiểm tra, kê khai dân số, kê khai gia đình kháng chiến, gia đình có người đi tập kết, bắt dân đi học tố cộng, tuyên truyền nói xấu cộng sản, chia rẽ Kinh – Thượng, truy bắt đánh đập, tra tấn số cán bộ cốt cán của ta. Địch dùng lính bảo an, cảnh sát lùng sục ven buôn, rẫy để phát hiện nơi ăn, ở của cán bộ bất hợp pháp, ngăn cấm dân không được để lúa gạo ở rẫy, ban đêm không được ngủ ở rẫy, ngăn cấm việc tiếp tế, nuôi dưỡng, che giấu cán bộ cách mạng, đưa bọn mật vụ chỉ điểm ở các tỉnh đồng bằng miền Trung lên Đắk Lắk để theo dõi nhận diện, truy bắt số cán bộ hợp pháp, cán bộ chuyển vùng của ta. Nhưng so với đồng bằng, hoạt động “tố cộng” của địch ở Đắk Lắk không quyết liệt, mức độ tổn thất về cán bộ, đảng viên không nhiều. Cán bộ ta lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống khủng bố bắt người, không chịu đi học tố cộng, nhân dân đã lợi dụng những phong tục tập quán của người dân tộc làm lý do để không cho địch vào làng, tổ chức cắm chông, gài mang cung ở ven rẫy không cho địch đi lùng sục.

Được sự chỉ đạo của Liên tỉnh V, Đắk Lắk mở đợt học tập cho cán bộ, đảng viên, cốt cán và nhân dân về các tài liệu như: Thương dân, yêu nước đứng lên làm cách mạng; Ba thương ba ghét; Chủ nghĩa cộng sản và người cộng sản; Khí tiết người đảng viên cộng sản. Đây là những nội dung giáo dục rất cơ bản vừa phù hợp với trình độ của cán bộ, đảng viên và đồng bào các dân tộc, phù hợp với tình hình lúc bấy giờ. Đợt học tập mở rộng khắp trong Đảng bộ và ở cơ sở đã nâng cao được nhận thức tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, chống lại những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của địch, giữ vững khí thế của nhân dân và ý chí cách mạng cho cán bộ đảng viên. Trong thời gian địch tố cộng, tư tưởng của cán bộ đảng viên có những diễn biến phức tạp, Đảng bộ đã phải dùng những hình thức văn nghệ, thơ ca, dùng tờ báo “Thống nhất” của tỉnh để tuyên truyền, giáo dục, động viên tư tưởng cho anh em.

Từ tháng 7/1957, với việc bắt di dân ồ ạt lên Đắk Lắk lập dinh điền phục vụ mục đích quân sự, địch đã chiếm nhiều vùng đất đai còn hoang hóa và lấn chiếm cả những vùng có ruộng rẫy của đồng bào các dân tộc đã sản xuất, làm ăn sinh sống từ lâu đời, trực tiếp uy hiếp đời sống của đồng bào dân tộc, đụng chạm đến quyền lợi đất đai, rừng núi, nguồn nước, đến tập quán làm ăn của đồng bào các dân tộc. Việc này không chỉ đối với những nông dân lao động mà đến cả lớp trên và trung gian, đến chủ đất, chủ làng, chủ bến nước… đến gia đình binh lính sĩ quan công chức người dân tộc, do đó nỗi bất bình của các tầng lớp quần chúng với chính quyền Ngô Đình Diệm trở nên rất sâu sắc. Tuy nhiên, ta đã kịp thời lãnh đạo, giáo dục nhân dân vạch rõ âm mưu thủ đoạn của địch dồn dân, lập ấp, lập dinh điền phục vụ mục đích quân sự của chúng. Một số phong trào quần chúng vùng dân tộc chống chiếm đất đã nổi lên mạnh mẽ quyết liệt.

Để bảo vệ đất đai của mình, đồng bào các dân tộc đã đưa đơn đến tỉnh, quận kiện việc chiếm đất, hàng nghìn người đã kéo ra ruộng rẫy đóng cọc, căng dây, giữ phạm vi đất đai của mình không cho địch lấn chiếm, phong trào chống chiếm đất đã được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, binh lính người dân tộc cũng đồng tình với phong trào đấu tranh của quần chúng đã buộc địch phải nhượng bộ, trả lại những nương rẫy lấn chiếm của dân. Qua đợt đấu tranh này, tinh thần và khí thế của nhân dân các dân tộc được nâng lên, mâu thuẫn giữa Mỹ - Diệm và nhân dân ngày càng sâu sắc thêm.

Đồng bào miền xuôi do địch đưa lên Đắk Lắk phần lớn là dân các vùng tự do, vùng kháng chiến cũ ở Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định, đã từng sống dưới chế độ ta, có người là cán bộ, đảng viên nay bị địch cưỡng ép di dân, họ rất căm thù địch. Phong trào chống di dân ở các tỉnh đồng bằng lúc này cũng rất quyết liệt, nhiều gia đình đấu tranh giành chồng con, nhiều người nằm cản đầu xe không cho chở chồng con đi di dân. Lãnh đạo địa phương đã vạch rõ âm mưu thủ đoạn của địch, hướng dẫn đồng bào đấu tranh chống Mỹ - Diệm, đòi giải quyết đời sống, đòi trở về quê cũ, đoàn kết với đồng bào các dân tộc, chĩa mũi nhọn vào chống Mỹ - Diệm.

Trước sự đấu tranh quyết liệt của đồng bào, âm mưu, thủ đoạn dồn dân lập dinh điền của địch bị thất bại từng bước, chúng phải hạn chế dồn dân, lập dinh điền ở những nơi hoang hóa, không cày ủi chiếm đất, nương rẫy của đồng bào.

Suốt 5 năm (1954-1958), cuộc đấu tranh đòi Ngô Đình Diệm thi hành Hiệp định Giơnevơ của nhân dân đã chịu nhiều tổn thất vô cùng lớn lao. Rất nhiều cán bộ, đảng viên, quần chúng yêu nước và cả những người vô tội (trẻ em, người già, phụ nữ) đã bị chúng giết hại một cách dã man. Việc đấu tranh bằng hòa bình, bằng thương lượng với chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm trong khi ta bị tước quyền tự vệ là tự sát, địch dùng bạo lực phản cách mạng tiêu diệt ta, ta phải dùng bạo lực cách mạng để tiêu diệt chúng đó là lô gíc của thời đại.

Đoàn B90 thực hiện nhiệm vụ xoi, mở đường nối liền đoạn Nam Tây Nguyên với miền Đông Nam bộ

Từ năm 1958, Trung ương và Liên khu V đã có sự chú ý hơn đến phong trào cách mạng ở Tây Nguyên. Giữa năm 1958, Liên khu V tổ chức Hội nghị họp kiểm điểm tình hình và nghiêm khắc phê phán những sai lầm, khuyết điểm trong việc chỉ đạo và lãnh đạo của Khu ủy. Hội nghị đã kết luận: “Nhìn chung từ sau Hiệp định Giơnevơ đến năm 1958, phong trào đấu tranh của quần chúng có đưa lên liên tục nhưng chưa thành phong trào mạnh, khuyết điểm chung của khu là đánh giá còn nhiều sai lệch, không nắm bắt kịp thời âm mưu thủ đoạn của địch nên đối phó bị động. Nhận thức đường lối không đúng, quá tin vào pháp lý Hiệp định Giơnevơ, quá tin vào đấu tranh chính trị. Chưa thấy rõ đặc điểm của miền núi để sớm xây dựng căn cứ địa. Thực tế địch có hung bạo, đường lối Đảng có nhiều thiếu sót, nhưng nếu chỉ đạo của Đảng bộ khu không mắc sai lầm thì phong trào trong khu sẽ khác hơn”. Từ nhận định đó, Liên khu ủy đã đề ra một số phương hướng để chuyển phong trào đi lên: Xây dựng Tây Nguyên và miền núi các tỉnh đồng bằng thành căn cứ địa cách mạng; bước đầu xây dựng lực lượng vũ trang và nửa vũ trang ở miền núi để làm nhiệm vụ tự vệ, bảo vệ căn cứ, bảo vệ cán bộ; khôi phục lại phong trào vùng đồng bằng.

Hội nghị ra Nghị quyết về xây dựng căn cứ Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh đồng bằng Nam Trung bộ với những nội dung cụ thể như: Phát động nhân dân làm “nương rẫy cách mạng”, tích trữ và cất giấu lương thực, muối, vũ khí, thuốc men để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Tinh thần bản Đề cương cách mạng miền Nam của đồng chí Lê Duẩn và các chủ trương của Hội nghị Khu ủy đã mở đầu cho việc chuyển phong trào cách mạng theo phương hướng mới. Cũng trong năm 1958, Liên khu ủy V có chỉ thị về xây dựng căn cứ địa, đã nêu rõ “xây dựng căn cứ địa là một vấn đề chiến lược của cách mạng. Từ sau Hiệp định Giơnevơ, Mỹ - Diệm đã có âm mưu xây dựng Tây Nguyên thành trung tâm căn cứ quân sự cơ động ở miền Nam, vì vậy một trong những nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là phải tích cực phá kế hoạch xây dựng trung tâm căn cứ của địch, từng bước biến hậu phương của địch thành hậu phương của ta, xây dựng Tây Nguyên thành chỗ dựa vững chắc và lâu dài của cách mạng miền Nam”.

Sau khi Ban Cán sự Đảng Đắk Lắk tiếp cận Bản đề cương về đường lối cách mạng miền Nam của đồng chí Lê Duẩn. Qua nghiên cứu, các đồng chí rất phấn khởi với vấn đề “đấu tranh chính trị có vũ trang hỗ trợ”. Tuy chưa có Nghị quyết Trung ương nhưng Ban cán sự tỉnh căn cứ phong trào thực tiễn của quần chúng, từng bước tổ chức thành những tổ, nhóm bán vũ trang (tự vệ mật, du kích mật…) để bảo vệ nhân dân, bảo vệ cán bộ, cơ sở. Đến cuối năm 1958, đồng bào Tây Nguyên không ngừng đấu tranh diệt ác ôn, bảo vệ cán bộ, bảo vệ đồng bào, phá cuộc càn quét dồn dân của địch.

Nhờ sự hoạt động tích cực và chuyển hướng kịp thời, từ phương thức đấu tranh vũ trang thời kháng chiến chống Pháp sang đấu tranh chính trị, che giấu và giữ gìn lực lượng cách mạng, nên các xã miền núi trên địa bàn Đắk Mil như: Nâm Nung, Nam Ka, Đắk Mâm, Jrah, Đắk D’rô, K’Rue, Buôn Leng ta xây dựng được các cơ sở cách mạng sâu rộng. Tại các buôn, bon này cũng hình thành được các tổ chức tự quản, để đối phó một cách kịp thời và hữu hiệu với địch trong việc tố cộng và cướp đất, lập các dinh điền. Dưới sự chỉ đạo của chi bộ Đảng bí mật, các tổ, đội vũ trang tuyên truyền của ta nhanh chóng thâm nhập xuống tận xã, buôn, bon, xây dựng nhiều cơ sở cách mạng bí mật trong lòng địch. Công tác tuyên truyền giáo dục, vận động nhân dân, xây dựng phát triển cơ sở cách mạng được coi là nhiệm vụ hàng đầu. Nhờ đó, ta móc nối lại số cán bộ cốt cán cũ ở nông thôn, đẩy mạnh xây dựng phát triển cơ sở ở vùng đồng bào các dân tộc; xây dựng cơ sở mới vào vùng địch, thị trấn, các đồn điền. Cán bộ của ta được dân tin yêu, che chở, nhờ đó ta nắm được tề ngụy ở xã, buôn, bon; vận động được đông đảo nhân dân, các già làng và một số tầng lớp trên hình thành mặt trận đoàn kết rộng rãi chống Mỹ - Diệm.

Năm 1959, vùng Nam Tây Nguyên bị địch liên tục đánh phá và khống chế gắt gao, đời sống kinh tế của đồng bào hết sức khó khăn, phong trào cách mạng chưa thực sự phát triển mạnh và đều khắp, nhiều nơi vẫn còn là vùng “trắng” do địch kiểm soát. Trong lúc đó, với khí thế sục sôi căm thù giặc Mỹ xâm lược và trước xu thế vùng dậy của quần chúng, tháng 1/1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II họp Hội nghị lần thứ 15 (mở rộng), Hội nghị đã ra Nghị quyết về đường lối cách Việt Nam ở miền Nam, Nghị quyết nêu rõ: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”.

Nghị quyết 15 của Trung ương phản ánh đúng nhu cầu của lịch sử, giải quyết kịp thời yêu cầu phát triển của cách mạng miền Nam, đáp ứng đúng tâm tư nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân miền Nam; là ngọn lửa dấy lên cao trào đồng khởi, làm xoay chuyển tình thế cách mạng miền Nam lúc bấy giờ.

Sau một thời gian tuyển chọn, ngày 15/5/1959, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định thành lập đoàn vận tải chiến lược Bắc – Nam (Đoàn 559) do đồng chí Đồng Sỹ Nguyên làm Chính ủy gồm nhiều Trung – Sư đoàn như F470, F471,… có nhiệm vụ xoi đường từ Q.K.4 vào Bắc Tây Nguyên (1960-1964). Ngay sau đó, tuyến đường bộ trên dãy Trường Sơn được gấp rút khai phá. Đồng thời, theo chủ trương của Đảng, ngày 25/5/1959, Bộ Quốc phòng và Ban thống nhất Trung ương tổ chức đoàn B90 gồm 25 đồng chí đã từng hoạt động và chiến đấu trên các chiến trường Đông Nam bộ, Nam Tây Nguyên, Đông Bắc Campuchia do đồng chí Trần Quang Sang làm trưởng đoàn khẩn trương lên đường vào Nam thực hiện nhiệm vụ “về chiến trường miền Nam, đến Nam Đắk Lắk hợp nhất với đội vũ trang công tác Bắc Đắk Mil (Nam Đắk Lắk) dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk, gây dựng cơ sở và xoi, mở đường về Nam Bộ, xây dựng hành lang chiến lược nối liền hai chiến trường Nam Tây Nguyên và Đông Nam bộ”.

Cùng với chủ trương trên, Trung ương cũng chỉ đạo Liên khu ủy V giao cho tỉnh Đắk Lắk gấp rút khai thông đường hành lang chiến lược từ Nam Tây Nguyên vào Đông Nam bộ; đồng thời Xứ ủy Nam Bộ phải trực tiếp chỉ đạo Liên Tỉnh ủy miền Đông tổ chức mở đường từ chiến khu Đ ra Nam Tây Nguyên, bắt liên lạc với Đoàn B90.

Đến cuối tháng 10/1959, Đoàn B90 của Trung ương vào đến chiến trường, tập kết tại buôn Đru, Đắk Rồ. Lực lượng của tỉnh lúc này có đội vũ trang công tác của các đồng chí Trần Phòng (Bảy Biên), Lê Đạo (Ama Nhao), Nguyễn Xuân Hòa (Ama Thu), Ama Sa, đứng chân ở Đức Lập (Đắk Mil – địa bàn căn cứ kháng chiến Nâm Nung). Để bảo đảm có sự phối hợp chặt chẽ giữa Đoàn B90 với bộ phận công tác Đắk Mil trong công tác khai thông hành lang chiến lược Bắc – Nam và phát triển phong trào cách mạng ở Nam Tây Nguyên. Tháng 11/1959, Liên khu ủy V điều đồng chí Vũ Anh Ba (Hồng Ưng), Bí thư Ban Cán sự tỉnh Đắk Lắk xuống chỉ đạo Đoàn B90 và Đội công tác Đắk Mil, đặc trách công tác mở đường móc nối với miền Đông Nam bộ và phát triển cơ sở cách mạng của tỉnh.

Theo sự chỉ đạo của đồng chí Ba Đạo và đồng chí Vũ Anh Ba (Hồng Ưng), Đoàn B90 cùng với đội công tác Đắk Mil hợp nhất thành một đơn vị, do đồng chí Vũ Anh Ba làm Bí thư. Sau một thời gian ngắn học tập về đường lối cách mạng, với phương châm “Tích cực, khẩn trương nhưng vững chắc, xoi đến đâu bám vào dân đến đó, xây dựng cơ sở thành lõm đứng chân và mở rộng theo vết dầu loang, làm bàn đạp tiến lên phía trước: Nói chung là vừa xoi đường vừa tạo khí thế bám trụ được khi hành lang đã mở ra”. Đơn vị B90 tổ chức thành 3 đội, một mũi và hai bộ phận công tác, gồm một bộ phận xây dựng cơ quan, một bộ phận củng cố địa bàn, một mũi công tác Bắc quốc lộ 14, một đội mở đường xây dựng cơ sở lấy địa bàn yếu khu hành chính Đức Xuyên làm bàn đạp, hướng về Tây Nam tỉnh Tuyên Đức (nay là thành phố Đà Lạt) do đồng chí Ama Quang (Kpă Ngãi) phụ trách. Còn hai đội có nhiệm vụ mở đường về Nam Bộ gồm:

Đội I, do đồng chí Trần Quang Sang – nguyên Đoàn trưởng Đoàn B90 làm đội trưởng, đồng chí Lê Đạo (Ama Nhao) cán bộ đội công tác Đắk Mil cũ làm Bí thư chi bộ, đồng chí Phạm Văn Nhường làm đội phó, về sau tăng cường đồng chí Phạm Lạc cùng các đồng chí Hoàng Minh Đỏ, Trần Văn Thời, Nguyễn Văn Định, Danh, Kỉnh, Quảng, Ai, Cược, Bình là cán bộ Đoàn B90 làm đội viên. Đội có nhiệm vụ phát triển cơ sở từ Đru, Đắk Rồ lấy buôn Bu SaNar, Bu Sia, Bu N’tinh làm bàn đạp, mở theo hướng từ Đông Khiêm Đức, Gia Nghĩa, tiến về Đồng Nai Thượng (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng) bắt liên lạc với bộ phận xoi đường đơn vị C200 của Đông Nam bộ từ chiến khu Đ lên Nam Tây Nguyên.

Đội II, lúc đầu do đồng chí Phùng Đình Ấm (Ba Cung) – nguyên Phó Đoàn B90 làm Bí thư chi bộ, đồng chí Nguyễn Xuân Hòa (Ama Thu) cán bộ đội công tác Đắk Mil (cũ) làm đội trưởng. Về sau đồng chí Phùng Đình Ấm, Bí thư chi bộ kiêm đội trưởng, đồng chí Nguyễn Đình Kính cán bộ Đoàn B90 làm đội phó, đồng chí Ama Sa (Y Bớ) – đội viên. Đội có nhiệm vụ từ bàn đạp Bu Đjră phát triển ra vùng ba biên giới xây dựng và phát triển cơ sở địa bàn Đắk Mil, Tây Gia Nghĩa, Đông và Tây Kiến Đức (vùng tiếp giáp giữa Trung Bộ, Nam Bộ và Đông Bắc Campuchia – trung tâm của nó bây giờ là ngã ba Đồn 9, huyện Tuy Đức) vượt quốc lộ 14, tiến về bắt liên lạc với bộ phận mở đường của Liên tỉnh miền Đông ở hướng Bà Rá – Phước Long (nay thuộc tỉnh Bình Phước). Như vậy, địa bàn Kiến Đức (sau này là huyện Đắk R’lấp) là một trong những địa bàn quan trọng, đội II phải triển khai công tác xoi đường để về đến mục tiêu.

Việc mở đường khai thông hành lang chiến lược Bắc – Nam trên địa bàn Nam Tây Nguyên lúc này là một nhiệm vụ chiến lược đặc biệt quan trọng nhưng vô cùng khó khăn gian khổ. Trong điều kiện chiến trường mới lạ, cơ sở cách mạng chưa có, thời tiết ở Tây Nguyên lúc bấy giờ vào mùa mưa, nước các suối đều dâng cao và chảy xiết; trời âm u, việc định hướng để cắt rừng rất khó khăn, không có phương tiện, dụng cụ thiên văn kể cả la bàn, hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm đội công tác phải mò mẫm bám từng buôn, móc ráp từng người dân, phải tự lo về lương thực hậu cần trong quá trình hoạt động. Phương châm hành động là khẩn trương, thực hiện “bốn biến” (biến không thành có – biến khó thành dễ - biến ít thành nhiều – biến yếu thành mạnh) được quán triệt trong các bộ phận xây dựng phát triển cơ sở, xoi mở đường hành lang, xây dựng căn cứ và các bộ phận phục vụ. Sau khi sắp xếp phân công, phân nhiệm cho từng hướng, các đội công tác bắt đầu triển khai xuống cơ sở vào đầu tháng 12/1959.

Ở hướng đội 1 (Đông Quảng Đức) từ bàn đạp Jốc Ju, đội nhanh chóng phát triển cơ sở, xây dựng được lõm đứng chân tạo nhiều bon xoay quanh cao nguyên Plateau R’Bút, làm bàn đạp mở ra hướng bon Sa – Nar tiếp tục thành lõm bàn đạp mới mở ra hướng khu vực bon Đắk N’ting, tạo thế tiếp cận huyện Khiêm Đức và thị xã Gia Nghĩa (tỉnh lỵ Quảng Đức).

Cuối tháng 8/1960, đội 1 nghiên cứu thấy bon Rưng là một bon lớn sở tại và nhiều bon khác địch gom lại thành nhiều khu tập trung nằm ngay bờ của ngã ba sông Đắk R’tíh và Đắk Deung, sát bìa phía Đông thị xã Gia Nghĩa, cạnh đó là quận lỵ Khiêm Đức. Đồng bào khu tập trung này cũng như bon Rưng không có quan hệ qua lại với đồng bào phía Đông Gia Nghĩa, chỉ có quan hệ qua lại với đồng bào phía Tây Gia Nghĩa mà thôi, báo cáo về lãnh đạo B.4 rằng, phía Tây Gia Nghĩa đã có lực lượng trong Nam hoạt động ra tới. Đội tổ chức một bộ phận 4 đồng chí gồm đồng chí Năm Nhường, đội phó và 3 đồng chí nữa (Lạc, Ma Đen và đồng chí y tá Thời) bí mật vượt lộ 14 bis (đoạn Nam Khiêm Đức) cắt rừng vượt sông Đắk R’tíh, đoạn vàm Đắk R’tíh, giáp sông Đồng Nai để tìm lực lượng phía Nam. Đến vàm Đắk R'tish, nước sông dâng cao do trận mưa lớn ở thượng nguồn, nước lũ đổ về chảy mạnh và xiết không thể qua được. Nhiệm vụ thôi thúc, các đồng chí đã quyết tâm thực hiện bằng cách lấy dây nối lại, cột vào thắt lưng đồng chí Thời để đồng chí tình nguyện bơi qua trước và đồng chí đã hy sinh. Sau đó, đội 1 lại nhận tiếp tin của ban lãnh đạo B.4 thông báo ám tín hiệu và địa điểm tìm bắt liên lạc với các đồng chí phía Nam, khi bộ phận cánh Nam do đồng chí Nguyễn Trọng Tâm – tức anh Bảy B.K – chỉ huy gồm các đồng chí Tâm, Cột, Tư đã phát hiện được dấu vết, nơi tạm trú của cánh phía Bắc, các đồng chí phục kích chờ đợi và hai đội gặp nhau vào lúc 16 giờ ngày 30/10/1960.

Như vậy gần một năm trời vừa phát triển xây dựng cơ sở, vừa cắt rừng xoi đường. Quá trình xoi, cắt rừng gian khổ, thiếu ăn (mỗi ngày mỗi người chỉ ăn một lon sữa gạo, phải độn thêm rau rừng như lá bép, đọt mây, măng non, môn dốc, v.v...), nên sức khỏe cán bộ, chiến sĩ trong mũi suy yếu nhiều. Mùa mưa, trời mưa cả ngày, cả đêm, suốt tuần không có mặt trời. Có ngày tuột xuống một khe suối rồi leo lên một cái đồi cũng hết một ngày và đuối sức. Nhưng vượt qua khó khăn, thiểu thốn, đội 1 đã hoàn thành nhiệm vụ. Hành lang phía Đông Quảng Đức đã được khai thông để giữ mối liên lạc, mỗi bên Nam – Bắc đều cử cán bộ cùng đi với bên kia về đến căn cứ của ban lãnh đạo, báo cáo tình hình và nhận nhiệm vụ mới.

Ở hướng đội 2 (Tây Quảng Đức), từ bon Jră (Djrah) nằm phía Đông Bắc huyện Đức Lập làm bàn đạp để mở rộng cơ sở về hướng Nam và Tây Nam. Đội nhanh chóng tuyên truyền phát triển cơ sở và xây dựng các bon Đắk Prí, Bu Bơ Đắk Đam, R’loong, bon Ng’lao làm bàn đạp mới tiếp cận huyện lỵ Đức Lập và tiến về hướng Nam. Hương phát triển là khu vực bon Bu Róa, dinh điền Đức An (Đắk Song ngày nay) vượt lộ 14 bis và thượng nguồn Đắk Deung, sang Tây lộ 14 tiến về Bắc chiến khu Đ (tức Phước Long lúc bấy giờ).

Vào khoảng tháng 3/1960, đội 2 nhận được tin Ban lãnh đạo thông báo ở phía Nam có lực lượng lên đến bon Bu Gân, Tây lộ 14 khoảng 2 ngày đường, chỉ thị đội tìm cách bắt liên lạc. Nhưng lúc này đội chưa có khả năng vượt qua khu Bu Róa nên thời cơ bị bỏ lỡ. Sau đó, đội móc ráp được 1 cơ sở bon Nâm Nung là một làng nhỏ bị gom dân về Bu Róa, tìm hiểu tình hình Bu Róa là một khu tập trung lớn, có tên tề “Tống Giang” ác ôn nhất vùng kèm kẹp quần chúng chặt, phát triển nhanh về hướng này còn khó khăn, đội quyết định chuyển dịch về hướng Đông, phát triển cơ sở vào bon Bu Bơ Đắk Nông, 1 bon nằm trên trục 14 làm bàn đạp. Tháng 4/1960, trong dịp tuyên truyền tại bon Bu Bơ Đắk Nông, tên Tống Giang đã bố trí dân vệ gài thế hòng bắt sống toàn bộ (3 người gồm đồng chí Phùng Đình Ấm, Nguyễn Xuân Hòa, Am Thu) nhưng ta thoát được. Sau sự việc này, quần chúng bị địch kích động, dọa là ta sẽ trả thù nên chỉ trong một đêm tất cả đã bỏ làng, bỏ rẫy chạy vào lập khu tập trung sát thị xã Gia Nghĩa.

Sau vụ Bu Bơ Đắk Nông, tình hình phát triển về hướng Đông gặp khó khăn, cơ sở ở đây đã bị mất. Đội chuyển hướng chủ yếu về hướng Tây. Lấy bon Bu Ng’lao làm bàn đạp. Các đồng chí Ba Can, Bảy Kính nhận gia đình ông “già hủi” làm cha nuôi nhằm dễ tạo chỗ dựa, bám cơ sở mật tổ chức được ở bon Bu Róa nằm ở Nam lộ 14 bis nắm tình hình tìm cách xoi đường vượt qua khu vực Bu Róa, hướng về phía nga ba biên giới (Trois Fonfiere) đồng thời lúc này đội cũng phải tập trung củng cố cơ sở vùng mới được xây dựng đang bị tác động mạnh do hoạt động của địch sau vụ bon Bu Bơ Đắk Nông xảy ra.

Cuối tháng 9/1960, đội được Ban lãnh đạo B.4 triệu tập về căn cứ học tập, bàn kế hoạch khẩn trương hoàn thành nhiệm vụ xoi mở đường. Sau khi nắm tình hình, đội đề nghị Ban lãnh đạo B.4 báo về Liên khu, để Liên khu trao đổi với phía Nam Bộ xin hẹn địa điểm hai bên gặp nhau bằng ám tín hiệu.

Thực hiện theo kế hoạch và nhiệm vụ, ngày 4/11/1960, đội xoi đường thứ hai của đoàn B90 bắt được liên lạc với lực lượng vũ trang tỉnh Phước Long, Đông Nam bộ tại trụ km 4 đường 14 kéo dài tính từ ngã ba Đắk Song đi Gia Nghĩa (nay là km23 Đắk Song đi Gia Nghĩa).

Như vậy, sau gần một năm vừa phát triển, gây dựng cơ sở quần chúng, vừa xoi mở đường, đến tháng 11/1960, cả hai đội của đoàn B90 (hướng Đông và hướng Tây) đều hoàn thành nhiệm vụ. Sự kiện này có ý nghĩa rất quan trọng về mặt chiến lược, chấm dứt thời kỳ chiến trường bị chia cắt, nối liền Liên khu V với miền Đông Nam bộ, nối liền tiền phương miền Nam với hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa; mở ra một vùng rộng lớn trở thành căn cứ địa kháng chiến. Việc hai cánh phía Nam và phía Bắc ráp liên lạc được với nhau ở vùng này chẳng những làm cơ sở mở rộng đường hành lang chiến lược Nam – Bắc mà còn mở ra cho phong trào cách mạng của đồng bào các dân tộc ở đây một trang sử mới. Đây là thắng lợi to lớn đạt được yêu cầu chỉ đạo của Trung ương, của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà suốt cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp, Đảng và quân đội ta đã đặt ra và trải qua bao hy sinh xương máu chưa đạt được nay được ghi vào truyền thống của Đoàn B90 như một nét son sáng chói, rất đáng tự hào, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của nhân dân trên địa bàn căn cứ kháng chiến Nâm Nung, góp phần khai thông đường hành lang chiến lược Bắc – Nam, đưa cách mạng miền Nam nói chung, Nam Bộ và cục Nam Trung bộ nói riêng chuyển sang một giai đoạn mới.

Khẩn trương xây dựng Nam Tây Nguyên gắn với các tỉnh miền Đông Nam bộ thành căn cứ địa vững chắc mở thông tuyến đường chiến lược Bắc – Nam (1959 - 1960)

2. Quá trình thành lập tỉnh Quảng Đức và xây dựng căn cứ kháng chiến Nâm Nung (1959-1960)

Ngày 23/1/1959, chính quyền Ngô Đình Diệm ra sắc lệnh thành lập ở Nam Tây Nguyên một tỉnh mới lấy tên là Quảng Đức, phạm vi từ phía Nam cầu 14 vào đến Phước Long gồm 3 huyện Đức Lập, Khiêm Đức, Kiến Đức và 1 khu hành chính Đức Xuyên, Tỉnh lỵ đóng tại Gia Nghĩa nhằm khống chế một địa bàn chiến lược ở Nam Tây Nguyên và để ngăn chặn hành lang của ta vào Nam bộ.

Tháng 5/1959, Mỹ - Diệm đưa ra Luật số 10/59 – đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, lê máy chém đi khắp nơi, mở tòa án xét xử và chém giết ngay tại chỗ những người chúng cho là theo cách mạng. Chúng còn mở các cuộc hành quân quy mô lớn cỡ trung đoàn, sư đoàn đánh vào căn cứ miền Tây các tỉnh Liên khu V để gom xúc dân, nhằm đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân.
Ngày 13/1/1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 15, ra nghị quyết về đường lối cách mạng Việt Nam: “Lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng của quần chúng là chủ yếu, kết hợp lực lượng vũ trang đánh đổ chính quyền thống trị đế quốc Mỹ và tay sai dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”.

Chỉ thị ngày 7/5/1959 của Ban Bí thư gửi Xứ ủy miền Nam nêu rõ nhiệm vụ đối với cách mạng miền Nam là: “Ra sức xây dựng căn cứ cách mạng”, cần phải lập căn cứ cách mạng ở cả miền Đông, miền Tây và miền Trung. Xây dựng căn cứ là để làm cơ sở vững chắc cho lực lượng cách mạng, là chỗ ở vững chắc cho bộ tham mưu, là nơi đào tạo và giáo dục cán bộ, xây dựng lực lượng để tiến tới làm nơi trung tâm hoạt động của mặt trận dân tộc thống nhất,… Phương châm đặt ra “là hết sức bí mật, khéo che giấu lực lượng, gọn nhẹ, lấy công tác chính trị làm cơ sở hoạt động, linh hoạt và cương quyết chống lại địch lúc cần thiết để bảo vệ lực lượng cách mạng.

Đối với địa bàn Tây Nguyên, tháng 5/1959, Ban Chấp hành Trung ương ra chỉ thị về nhiệm vụ xây dựng căn cứ cách mạng ở Tây Nguyên. Chỉ thị xác định “Xây dựng Tây Nguyên, trọng tâm là xây dựng các tỉnh Nam Tây Nguyên trở thành một căn cứ địa vững chắc ở miền Nam, phá vỡ kế hoạch xây dựng trung tâm căn cứ quân sự của Mỹ - Diệm, tạo thế mạnh cho cách mạng miền Nam chuyển sang tiến công địch và tích cực góp phần bảo vệ miền Bắc”. “Phương hướng phấn đấu của ta là ra sức xây dựng lực lượng, xây dựng trung tâm căn cứ cách mạng, mở rộng các vùng trọng yếu, tiến lên xây dựng thực hiện chiến tranh du kích cục bộ, làm chủ những vùng rộng lớn ở Tây Nguyên, uy hiếp và thu hẹp vùng kiểm soát của địch, thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị toàn miền Nam, sẵn sàng hành động khi có thời cơ”, “xây dựng đường hành lang chiến lược Bắc – Nam, Đông Tây là yêu cầu trước mắt và lâu dài”. Đồng thời, Trung ương cũng giao cho Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Đắk Lắk, Lâm Đồng và miền Đông Nam bộ, phải đảm trách nhiệm vụ quan trọng này, vì xây dựng căn cứ địa ở Tây Nguyên là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của cách mạng miền Nam và cả Đông Dương.

Thực hiện chỉ đạo của Ban Bí thư, Khu ủy và Tỉnh ủy Đắk Lắk đề ra nhiệm vụ: đẩy mạnh công tác xây dựng miền núi thành căn cứ địa cách mạng. Tỉnh Đắk Lắk triển khai tập trung xây dựng hai khu căn cứ lớn của tỉnh: khu căn cứ phía Bắc là Dleiya và khu căn cứ phía Nam là khu căn cứ kháng chiến Nâm Nung.

Quán triệt và triển khai tinh thần chủ trương trên, đội hoạt động bất hợp pháp đã nhất trí nhận định: muốn xây dựng căn cứ ở đây, trước hết phải củng cố cho thật vững về mọi mặt các cơ sở cũ, đồng thời tiếp tục mở rộng ra các vùng xung quanh. Trên cơ sở phương hướng đúng đắn, đội chủ trương phát triển sang phía Đông và Đông Nam của huyện Đức Lập (nằm phía suối Đắk Rung ngày nay). Sau khi khảo sát thì phát hiện hệ thống tề điệp của địch ở đây còn mạnh, quần chúng bị địch kìm kẹp chặt, dễ để lộ lực lượng cách mạng. Vì thế, đội đã quyết định tập trung phát triển vào hướng Bắc của huyện vùng bon Sa Na (nay thuộc xã Quảng Sơn).

Tại quận Đức Lập (bao gồm cả Đắk Mil, Krông Nô, huyện Chư Jút, một phần huyện Đắk Song và Tuy Đức ngày nay), đội công tác do đồng chí Trần Phòng (Bảy Biên) phụ trách đứng chân ở Nâm Nung, sau một thời gian đội đã nhanh chóng xây dựng được cơ sở ở xã. Phong trào cơ sở vùng căn cứ lúc này đi vào chiều sâu. Tình hình thuận lợi, đơn vị chủ trương phát triển sang Bắc đường 14 (nay là huyện Chư Jút) do đồng chí Lê Đạo phụ trách, phát triển phong trào cả chiều sâu lẫn chiều rộng và chú trọng phát triển đảng viên, ở các buôn vùng căn cứ có tổ chức đoàn thanh niên và du kích bí mật.

Tháng 4/1960, Liên Khu ủy V họp kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng và quyết định: “Phát động quần chúng ở xa căn cứ miền núi vũ trang chống địch càn quét, đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang tập trung, khẩn trương xây dựng khu căn cứ địa miền núi”, vùng Nâm Nung được chọn là một trong những căn cứ địa của địa bàn Tây Nguyên.

Qua công tác khảo sát địa hình vùng núi rừng Nâm Nung trên bản đồ và thực địa, Lãnh đạo B4 khẳng định: “địch chỉ có khả năng tổ chức càn quét đánh phá vào căn cứ chủ yếu từ hướng Tây và Tây Bắc, chúng sẽ phải lấy đường 14 làm điểm xuất phát”. Xác định căn cứ kháng chiến Bắc Nâm Nung là địa bàn đứng chân của Tỉnh ủy Quảng Đức trong cuộc kháng chiến chống Mỹ lâu dài, gian khổ và nhiều hy sinh, thử thách.

Tháng 12/1960, trên cơ sở địa giới hành chính của chính quyền Ngô Đình Diệm, Trung ương quyết định thành lập tỉnh Quảng Đức, được chia làm 4 huyện (mật danh là K) gồm: K63 (Đức Lập), K4 (Đức Xuyên), K6 (Khiêm Đức – thị xã Gia Nghĩa), và K8 (Kiến Đức). Ban Cán sự Đảng bộ tỉnh Quảng Đức được thành lập trên cơ sở Ban cán sự B4 cũ. Đồng chí Vũ Anh Ba (bí danh Hồng Ưng) làm Bí thư, các đồng chí Trần Phòng (Bảy Biên), Lê Đạo (Ama Nhao) và Ama Sa là ủy viên. Sao đó (khoảng cuối năm 1960) do yêu cầu phối hợp giữa công tác xây dựng cơ sở cách mạng và khai thông hành lang chiến lược, Trung ương quyết định bổ sung vào Ban Cán sự Quảng Đức 3 ủy viên nguyên là cán bộ lãnh đạo của Đoàn B90 gồm các đồng chí: Trần Quang Sang (Ba Phước), Phùng Đình Ấm (Ba Cung) và Phạm Văn Lạc.

Tỉnh Quảng Đức được thành lập, Ban cán sự kế thừa tỉnh Đắk Lắk triển khai hai nhiệm vụ chính: Một là, ra sức xây dựng phát triển thực lực cách mạng, xây dựng căn cứ địa Nâm Nung (nơi đứng chân của cơ quan Đảng bộ tỉnh, các cơ quan trực thuộc và lực lượng vũ trang) đẩy mạnh hoạt động chính trị, quân sự, chủ động chống đánh địch; hai là, khẩn trương xây dựng bảo vệ đường hành lang chiến lược cả cánh Đông và cánh Tây nối liền với miền Đông Nam bộ; chuẩn bị lương thực, thực phẩm để đưa đón cán bộ, bộ đội, các loại hàng hóa, khí tài vào Nam.

Với khí thế của một tỉnh mới thành lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Đức, nhân dân trên địa bàn Nâm Nung cùng với quân và dân trên toàn tỉnh hăng hái tham gia cuộc đấu tranh với khí thế mới, trong đó có nhiệm vụ xây dựng căn cứ kháng chiến Nâm Nung.

Cuối năm 1960, tỉnh giao cho đồng chí Phạm Văn Lạc phụ trách quân sự nhanh chóng xây dựng kế hoạch phòng thủ, bảo vệ thông qua công tác khảo sát địa hình, hướng bố trí địa điểm các cơ quan của tỉnh, vị trí của lực lượng vũ trang, nhận định các hướng tiến công càn quét đánh phá của địch với thế phòng thủ như sau:

- Vành đai ngoài cùng, lấy suối Đắk Đ’rô là tuyến phòng thủ bằng việc cắm chông, hầm chông, mang cung các loại. Tuyến này có các bon vùng căn cứ của ta là: R’Cập, Jrah, Yok You, K62, bon già làng Ma Chí, Ma Beo,… thông qua các tiểu đội du kích bám địch.

- Vành đai thứ hai, các cơ quan ban, ngành của tỉnh đóng theo lưu vực suối Đắk M’Rôch, Đắk P’rí. Các cơ quan đều có công sự, hầm chống phi pháo, chống địch ném bom. Tuyến này còn có đơn vị Bộ binh C54 (do tiểu đoàn 186 biệt phái ở lại Quảng Đức hoạt động) cùng với đơn vị C30, C50 (đơn vị được Đắk Lắk tăng cường cho Quảng Đức, hoạt động địa bàn Đức Lập) và một số đơn vị. Các đơn vị vũ trang này vừa hỗ trợ tác chiến cho lực lượng du kích vừa bảo vệ cho các cơ quan của tỉnh rất cần thiết.

- Khu vực các cơ quan lãnh đạo của tỉnh gồm 6 cơ quan Tỉnh ủy và điện đài, cơ yếu, cơ quan tỉnh đội và một số ban giúp việc được bố trí chỗ ở sâu và hiểm trở hơn. Từ vành đai thứ hai muốn vào nơi này phải leo núi (dốc 3 tầng hoặc gọi là dốc 3 nhát). Cả hai cơ quan đầu não của tỉnh có điện đài 15W để liên lạc với khu ủy và quân khu hoặc Trung ương Cục.

Quần thể căn cứ kháng chiến Bắc Nâm Nung với lợi thế rừng núi hiểm trở, địa bàn này vừa là nơi tiến công, bám ấp thuận lợi vừa là nơi đóng quân, trú quân với một lực lượng lớn an toàn, bí mật, kín đáo. Phía Bắc và Tây Bắc cách khu căn cứ Bắc Nâm Nung khoảng 5km có trên 10 bon, đại bộ phận là bà con M’nông Preh. Qua công tác tuyên truyền, vận động bà con các bon đã thấy rõ Mỹ - Diệm là kẻ thù trực tiếp cần phải đánh đổ, nghe lời của Đảng, Bác Hồ để xây dựng cuộc sống ấm no, yên bình.

Căn cứ kháng chiến Nâm Nung được xây dựng với phương án phòng thủ kiên cố. Vành đai phòng thủ từ xa từ các hướng Bắc suối Đắk Drồ, ở đây bố trí cắm chông, hầm chông, cạm bẫy các loại. Qua kết quả Đại hội Mặt trận, các huyện xây dựng các tiểu đội dân quân du kích, có phương án hợp đồng chiến đấu từng khu vực địa điểm (lúc này vũ khí trang bị như súng trường Mas, Indo, trường Mỹ,...). Địa điểm bố trí của các cơ quan tỉnh bên trong vùng suối Đắk Drồ rất kín đáo, các cơ quan đều có hầm trú ẩn chống máy bay, khi pháo bắn phá, có địa điểm mới dự phòng để bảo toàn lực lượng, xây dựng ý thức phòng gian bảo mật, tinh thần và tác phong sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống. Thời gian này chỉ có cơ quan tỉnh ủy, tỉnh đội có bộ phận điện đài -cơ yếu, các cơ quan còn lại chỉ thông tin qua công văn, thư tín.

Cấu trúc các khu nhà ở được hình thành làm hai khu vực là khối các cơ quan và khối các lực lượng vũ trang:

+ Khối các cơ quan: Khu nhà làm việc của tỉnh ủy và tỉnh đội có diện tích khá rộng, cao ráo, thoáng mát, nằm dưới những tán cây cổ thụ rất kín đáo. Nhà ở và làm việc của các đồng chí lãnh có diện tích từ 12m2 đến 20m2, nhà hội trường có diện tích 102m2, nhà ở cho chiến sĩ có diện tích từ 40 đến 100m2 và nhà ăn có bếp Hoàng Cầm với diện tích 80m2. Toàn bộ các nhà đều có cấu trúc hai mái, có chái phụ, chất lợp gồm cỏ tranh, lá cọ, lá mây… Nguyên liệu làm nhà kể cả bàn ghế, giường nằm đều là gỗ cây rừng và lồ ô, nứa. Các khu nhà đều được thưng vách bằng lồ ô và nứa để chống tạt vào mùa mưa và chống gió lạnh vào mùa khô.

+ Khối các lực lượng vũ trang được bố trí xây dựng theo hình chữ U, các nhà trung đội dài và rộng có diện tích 100m2 (5mx20m), nhà Ban Chỉ huy có diện tích 40m2. Ngoài ra, có hội trường trung tâm diện tích 200m2, cách nhà ở 3m là các giao thông hào, hầm trú ẩn có nắp dày 0,60m. Cách khu vực ở khoảng từ 30-50m là khu vực chặn nuôi (heo -gà) để cải thiện cho cơ quan - đơn vị trong những dịp lễ tết hoặc bồi dưỡng cho các đồng chí bị ốm đau…

Có thể thấy, địa thế căn cứ kháng chiến Nâm Nung đã bảo đảm hội tụ được các yếu tố “địa lợi và nhân hòa”, vững chắc trong việc bố phòng, thuận lợi trong công tác chỉ đạo tiến công, phát triển chiến tranh nhân dân, là yếu tố mang tính sống còn cho Đảng bộ và nhân dân tại thời điểm bấy giờ, trở thành một trong những khu căn cứ có vị trí và vai trò hết sức quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở Tây Nguyên nói riêng, miền Nam Việt Nam nói chung.

Mặc dù gặp không ít trở ngại, khó khăn do chiến tranh, điểm đặc thù của địa bàn những với sức mạnh đoàn kết của quân và dân toàn tỉnh, căn cứ kháng chiến Nâm Nung bước đầu xây dựng và kiện toàn, các cơ quan của tỉnh đã cơ bản ổn định. Đồng thời, với sự chỉ đạo, điều động của Trung ương, các lực lượng an ninh, tài chính, quân, dân y đã được xây dựng trên địa bàn, Căn cứ kháng chiến Nâm Nung trở thành căn cứ địa quan trọng cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trường kỳ.

Tại căn cứ kháng chiến Nâm Nung, tháng 10/1960 đồng chí Bùi San (Chín Liêm) -Bí thư Ban cán sự đảng tỉnh giao cho đồng chí Ao Sỹ và tổ cơ yêu của tỉnh khẩn trương chuẩn bị kịp thời tài liệu mật “Cương lĩnh Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam”. Ngày hôm sau, đồng chí Bùi San (Chín Liêm) giao cho đồng chí Ao Sỹ cùng đồng chí Ma Tăng (dân tộc M’nông) bí mật, kịp thời đưa tài liệu tới Bến Đá (Krông Nô ngày nay) giao cho đồng chí Vũ Anh Ba (Hồng Ức) -Bí thư Bán cán sự B4. Chuyến liên lạc đặc biệt ấy đã được hoàn thành, đồng chí Vũ Anh Ba đã triển khai cho các đồng chí tại đay học tập tình hình nhiệm vụ mới và Cương lĩnh Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Đồng thời, sau ít hô, đồng chí Ybil Alêo được anh em nội tuyến đưa về, bố trí ở chung với đồng chí Bùi San (Chín Liêm). Tại đây, đồng chí nhiệt tình, tâm huyết không quản ngày đem dịch Cương lĩnh mặt trận miền Nam Việt Nam ra tiếng Êđê; biên soạn Cương lĩnh Mặt trận Dân tộc giải phóng Tây Nguyên. Đồng chí Vũ Anh Ba cùng đồng chí Trần Phòng cũng khẩn trương dịch và đề ra phong trào N’Trang Lơng bằng tiếng M’nông kêu gọi các dân tộc Tây Nguyên đoàn kết chống giặc tại Văn phòng B4. Tất cả những nhiệm vụ đó là sự chuẩn bị hưởng ứng sự kiện Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời.

Ngày 20/12/1960, tại Rùm Đuông, xã Tân Lập, huyện Châu Thành thuộc vùng căn cứ bắc Tây Ninh, Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam họp quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Đại hội cử ra Ủy ban Trung ương, thông qua Cương lĩnh chính trị và chương trình hành động 10 điểm, kêu gọi các tầng lớp nhân dân miền Nam đoàn kết chống Mỹ, cứu nước.

Đảng bộ và nhân dân các vùng căn cứ của tỉnh tích cực đóng góp sức người, sức của cho hành lang, có lúc huy động cả voi và ô tô vận tải chở gạo, muối tiếp tế cho lực lượng đi trên hành lang. Đồng bào các dân tộc ở căn cứ kháng chiến Nâm Nung chỉ có khoảng 800 dân mặc dù phải ăn lá rừng, củ rừng, nhưng vẫn dành lúa, ngô, khoai, sắn giúp đỡ các đội xoi đường và cán bộ, bộ đội đi trên hành lang.

Từ cuối năm 1960, phong trào tấn công nổi dậy giành làm chủ và giải phóng nông thôn được đẩy lên liên tục và sôi nổi. Tuy địch có phản ứng đối phó, mở càn quét đánh phá lấn chiếm lại một số nơi nhưng phong trào quần chúng và các vùng mới giải phóng vẫn được giữ vững. Lực lượng chính trị vũ trang được tăng cường, hoạt động đánh địch tiếp tục nâng lên.

Công tác xây dựng, củng cố các vùng giải phóng, xây dựng căn cứ địa cách mạng được Đảng bộ chú trọng. Phong trào sản xuất lương thực trồng khoai, sắn và chăn nuôi trong nhân dân và trong các lực lượng thoát ly được đẩy mạnh. Nhờ có sản xuất, ta đã động viên nhân dân đóng góp nuôi quân, bảo đảm cho việc xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang. Đi đôi với công tác vận động tăng gia sản xuất tự túc, Ban Cán sự Đảng còn chỉ đạo tổ công tác Mặt trận phiên âm chữ M’nông để dạy cho con em đồng bào dân tộc; hàng trăm em được học tại trường do tổ công tác vận động nhân dân xây dựng. Dù số lượng còn hạn chế, nhưng việc làm này có ý nghĩa hết sức lớn đối với đồng bào, nó thể hiện tính cách mạng và quan điểm “vì nhân dân” của Đảng mà đồng bào rất cảm kích, càng tăng thêm nhiệt tình ủng hộ cách mạng, tham gia cách mạng. Phong trào văn hóa, văn nghệ được đẩy lên. Công tác y tế, vệ sinh phòng bệnh được chú ý trong việc vận động nhân dân thực hiện “ăn chín – uống nước đun sôi” và sưu tầm cây thuốc để chữa bệnh.

CUỘC CHIẾN TRANH CHỐNG MỸ VÀ BẢO VỆ HÀNH LANG CHIẾN LƯỢC BẮC – NAM TRÊN ĐỊA BÀN CĂN CỨ KHÁNG CHIẾN NÂM NUNG (1961-1975)

Giữ vững tuyến hành lang cùng quân dân miền Nam đấu tranh chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ (1961-1965)

Mở rộng khai thông đường Hành lang chiến lược; củng cố, bảo vệ căn cứ kháng chiến Nâm Nung (1961-1963)

Đường Hồ Chí Minh đoạn nối liền Nam Tây Nguyên đến miền Đông Nam bộ được khai thông từ cuối năm 1960 và chính thức đi vào hoạt động đầu năm 1961. Địa bàn đầu tiên con đường đi qua là tỉnh Quảng Đức từ điểm đầu phía Bắc tiếp giáp với hành lang của Đắk Lắk tại Nam – Bắc bờ sông Sêrêpốk đến với căn cứ Nâm Nung và từ Nâm Nung chia tỏa ra hai nhánh Đông và Tây. Đầu năm 1961, Ban hành lang Quảng Đức quản lý cả 2 trạm Bắc sông Sêrêpốk. Đến năm 1962, hai trạm trên được giao lại cho Ban hành lang Đắk Lắk (B3) quản lý. Như vậy, hành lang tiếp giáp với C10 đến Nâm Nung của Quảng Đức được bố trí các trạm:

+ Trạm C20 đóng ở suối Đắk Kễn (nay thuộc huyện Cư Jút) do đồng chí Nguyễn Xuân sau là đồng chí Võ Bình làm Trạm trưởng.

+ Trạm C30 đóng ở suối Đắk Klau (nay thuộc huyện Cư Jút) do đồng chí Nguyễn Thanh Hải làm Trạm trưởng.

+ Trạm C50 do đồng chí Huỳnh Xuân Cư làm Trạm trưởng đóng tại vùng Nâm Nung. C50 lập hai trạm phụ: Trạm phụ ở phía Bắc đóng gần quốc lộ 14 nối với Trạm C30 do đồng chí Trương, Trạm phó phụ trách. Trạm phụ ở phía Nam đóng ở suối Đắk Rí nối với hành lang Phước Long do đồng chí Y Mạnh phụ trách. Sau đó, các trạm trên đoạn đường này đổi mật danh là X1, X2, X3, X4, còn trạm phụ phía Nam trở thành trạm chính (X5) do đồng chí Bạch Văn Tiến làm trưởng trạm.

Nhánh hàng lang phía Đông tỉnh Quảng Đức xuất phát từ Nâm Nung, đi qua địa bàn huyện Khiêm Đức về Lâm Đồng và về chiến khu Đ gọi là Đ1. Đường Đ1 đầu tiên đi qua huyện Khiêm Đức (lúc bấy giờ do đồng chí Trần Quang Sang, sau đó là Lê Đạo làm Bí thư), các đồng chí Phạm Văn Nhường, Hoàng Minh Đỏ, Hoàng Thành Danh có nhiệm vụ nhanh chóng xây dựng vùng căn cứ của Khiêm Đức và xây dựng hành lang nối liền Quảng Đức với Lâm Đồng. Lúc đầu tiếp nhận hành lang từ hai ngả: Ngả thứ nhất từ đầu mối căn cứ Nâm Nung (Quảng Đức) và dọc theo Platô Rbut. Ngả thứ hai vào từ Đắk Rđon buôn Khang (Đầm Ròn) dọc theo suối Đắk R’măng qua Đức Trọng, các bon Rong Phe, Păng Tang, Păng Zoon và vào địa phận Khiêm Đức, hợp điểm với đường Đ1 tạm trạm gần Pang Soai và N’rúc chuẩn bị vượt đường 8 bis (Gia Nghĩa – Kin Đạ) xuống Đồng Nai (Đắk Doeng) sang Lâm Đồng. Như vậy, con đường Đ1 trước đây có hai trạm trên địa bàn Khiêm Đức là: Trạm X1 đóng ở suối Đắk R’măng có nhiệm vụ nối với hành lang Đức Trọng (tức đường Đ3) và X2 do Nguyễn Văn Đực làm Trạm trưởng và Trạm X2 đóng ở Pang Soai có nhiệm vụ nối với trạm X1 và nối với đầu mối C200 (Lâm Đồng) tại bon Đinh Xiếc do đồng chí Hồ Minh Tư làm Trạm trưởng. Khi đường Đ3 hợp nhất với đường Đ1, các trạm hành lang sắp xếp lại mật danh là T.

1. Mở rộng khai thông đường Hành lang chiến lược; củng cố, bảo vệ căn cứ kháng chiến Nâm Nung (1961-1965)

Hai trạm trên địa bàn Khiêm Đức vẫn như cũ. Trạm X2 của Trạm trưởng Hồ Minh Tư (nguyên là thành viên của đoàn C200) là một trạm xung yếu từ trạm này xuống bờ sông Đồng Nai để sang Lâm Đồng phải vượt qua đường 8 bis (QL28) (Gia Nghĩa – Kin Đa) sát đồn Hàng Nor (nay thuộc xã Quảng Khê – Đắk Glong) do một đại đội bảo an địch đóng giữ. Nhờ có kế hoạch hết sức chặt chẽ và sự che chở của nhân dân nên suốt thời gian dài vẫn bảo đảm an toàn tuyệt đối.

Sau khi đường Hành lang Đ3 hợp nhất vào đường Hành lang Đ1, con đường phía Đông thông suốt từ địa bàn Đông Đắk Lắk đến Lâm Đồng về chiến khu Đ. Đường hành lang Đ2 ở phía Tây dành cho cán bộ quân sự và các đoàn hành quân. Con đường hành lang Đ1 ở phía Đông chuyên đưa các đoàn cán bộ dân – chính đảng và vận tải hàng hóa, các linh kiện vũ khí, phương tiện, khí tài miền Bắc chi viện cho Nam bộ và cực Nam Trung bộ. Các trạm hành lang trên đường này, ngoài chiến sĩ giao liên, mỗi trạm còn có một đội vận tải 20 người. Nhờ đó, trong một thời gian ngắn đã vận chuyển khối lượng lớn hàng hóa, hàng ngàn tấn ứ đọng tại các kho của các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk được đưa vào Nam trong đó có nhiều trang thiết bị hiếm như đài phát thanh, máy truyền tin, dụng cụ y tế, thuốc men cần thiết cho chiến trường.

Đầu năm 1961, khi đường Hồ Chí Minh đoạn Nam Tây Nguyên và miền Đông Nam bộ được khai thông, lực lượng quân đội, lương thực thực phẩm được vận chuyển từ miền Bắc chi viện cho miền Nam đi qua địa bàn tỉnh Quảng Đức được an toàn, thông suốt. Đặc biệt, con đường này còn đưa đón, bảo đảm tuyệt đối an toàn cho các đoàn cán bộ cấp cao của Đảng và quân đội từ Hà Nội hay Quân khu V vào Nam bộ như đoàn của các đồng chí Võ Chí Công (Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam), Trần Nam Trung (Ủy viên Thường trực Trung ương Cục), Trần Chí Cương (Bí thư khu ủy Khu V), Trần Lê (Bí thư khu ủy Khu VI), các tướng lĩnh như Trần Văn Quang, Đồng Văn Công, Nguyễn Minh Châu. Đặc biệt, luật sư Nguyễn Hữu Thọ sau khi thoát khỏi nhà tù của Mỹ - Diệm ở Phú Yên cũng đi qua con đường này để về Nam và giữ chức Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Như vậy, từ đầu năm 1961 đến năm 1963, dưới sự chỉ đạo của Trung ương, của các Khu 5, 6, 10 và Ban Cán sự tỉnh Quảng Đức (B4), Tỉnh ủy Đắk Lắk, đường hành lang trên các tuyến đường đều được thông suốt, bảo đảm các nhiệm vụ trọng yếu mà hành lang phải đảm nhận. Liên tục củng cố mở đường (đường dự bị) trên các tuyến, nhất là các địa điểm xung yếu, đầu mối móc trục với Đắk Lắk tại bờ Bắc sông Sêrêpốk có 6 địa điểm trụ cách nhau 1 đến 3 km. Vì bờ sông thường xuyên có 1 đại đội địch đi tuần tiêu phát hiện dấu vết vượt sông của bộ đội ta. Các đoạn xung yếu khác là trục quốc lộ 14 (đoạn phải vượt qua Đắk Gằn – Đắk Mil), đoạn phải qua Kiến Đức – Bu Bông để móc nối với Phước Long và đoạn phải vượt qua sông Đồng Nai.

Ở tất cả các địa điểm trên khi liên lạc đều phải dùng mật khẩu, ám tín hiệu. Đồng thời, việc đưa đón quân phải bảo đảm an toàn, chu đáo bao gồm cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc nay được lệnh trở về miền Nam tiếp tục nhiệm vụ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cán bộ thuộc các bộ, ngành Trung ương mà miền Nam chưa thể đào tạo được và lực lượng vũ trang an ninh thuộc các quân, binh chủng trước hết là bộ binh, pháo binh, đặc công, trinh sát cần được phân bổ về các Quân khu: 5, 6, 7, 8, 9…

2. Củng cố, bảo vệ căn cứ kháng chiến Nâm Nung (1961- 1963)

Thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ mà xương sống của chiến lược này là kế hoạch của Staley Tay lor “bình định miền Nam Việt Nam trong vòng 18 tháng”. Trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt” Mỹ - Diệm đã ra 5 biện pháp lớn trong đó “Kế hoạch Stalay – Taylo” là xương sống của toàn bộ chiến lược. Chúng tập trung sức thực hiện: “Quốc sách ấp chiến lược” với mục tiêu và ý đồ “tát nước bắt cá”, tách quần chúng ra khỏi ảnh hưởng của cách mạng.

Trên địa bàn tỉnh Quảng Đức ngay từ giữa năm 1961, Mỹ - Diệm bắt đầu triển khai kế hoạch dồn dân, lập ấp chiến lược. Chúng tăng cường dồn dân, bắt lính, xây dựng các đại đội bảo an, các trung đội dân vệ, củng cố các tuyến giao thông từ Buôn Ma Thuột tới Gia Nghĩa, Kiến Đức, Liên tỉnh lộ 15 và quốc lộ 28. Xây dựng sân bay dã chiến và hệ thống các đồn bót trên các tuyến đường trên, đồng thời tăng cường công tác thám báo, thám sát dò la trục đường hành lang của ta để ngăn chặn và đánh phá. Chúng tổ chức, huấn luyện các lực lượng biệt kích, gián điệp (chủ yếu lấy người dân tộc thiểu số tại các bon vì lực lượng này rất am hiểu tình hình địa phương).

Để đối phó với các âm mưu, thủ đoạn của địch, Tỉnh ủy Quảng Đức chủ trương nhanh chóng xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, đồng thời tăng cường cả số lượng và chất lượng cho các đội mũi công tác từ tỉnh đến các huyện. Qua phân tích về chất lượng của từng đội công tác, được cơ cấu gồm các đồng chí sau:

Thứ nhất, đội trưởng là các đồng chí trong cấp ủy huyện, vì các đồng chí này vừa nắm chắc nghị quyết, chủ trương, đúc rút được nhiều kinh nghiệm qua các thời kỳ đấu tranh chính trị, vừa am hiểu về phong tục tập quán, ngôn ngữ của đồng bào M’nông trong từng vùng, những tâm tư nguyện vọng chính đáng cần có để vạch ra kế hoạch hoạt động đấu tranh phù hợp nhằm đạt thắng lợi cho phong trào.

Thứ hai, đồng chí phụ trách an ninh trong đội biết phân loại được đối tượng quần chúng (A-B-C), phân loại được các đối tượng trong bộ máy kìm kẹp của địch, chọn và xây dựng các cơ sở mật, lực lượng cốt cán qua thử thách ở bên trong làm nòng cốt cho công tác thông tin tuyên truyền sâu trong lòng địch. Ngoài các đồng chí trên, các thành viên còn lại của đội mũi công tác đều là những đồng chí mưu trí, dũng cảm, sáng tạo, chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh để liên tục bám dân, bám ấp. Do đó, có thể khẳng định rằng, bên cạnh hoạt động quân sự của các lực lượng vũ trang nhằm hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị thì các đội mũi nhọn công tác của ta tại các huyện như đội 300, 310, 315, 320, X46, C30, C50 của Đức Lập, đội K4 của Đức Xuyên, các đội T21, T23, T27A+B của Khiêm Đức và các đội C8, C9 của Kiến Đức,… đều là những lực lượng làm công tác thông tin tuyên truyền tích cực và hiệu quả nhất trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.

Sau sự kiện Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời (20/12/1960), tại tỉnh Quảng Đức, Ban Cán sự Đảng tỉnh đã kịp thời chỉ đạo cho các huyện tổ chức đại hội để thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng ở từng địa phương.

Tại huyện Đức Lập, tháng 5/1961, Đại hội tổ chức tại suối Đắk Đ’Rồ, có hơn 150 đại biểu về dự đại hội, ông Ama Hùng được bầu làm Chủ tịch. Sau đại hội huyện đã đề ra chương trình hành động sát với thực tiễn tình hình của địa phương, phát động một đợt tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân khẳng định kẻ thù trực tiếp của nhân dân miền Nam là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm.

Ban cán sự Đảng đã tiến hành chuyển các buôn ở vùng căn cứ lên bất hợp tác với chính quyền Ngô Đình Diệm, như các buôn: Ja Rá, R’Cập, Yok You, K62, Đắk Rí; chuyển vùng Nâm Nung thành căn cứ kháng chiến của quân và dân tỉnh Quảng Đức nói chung và huyện Đức Lập nói riêng. Tại căn cứ kháng chiến Nâm Nung, đội công tác đã từng bước động viên thanh niên các buôn vùng căn cứ, một số buôn vùng địch tạm chiếm thoát ly vào các lực lượng vũ trang, các cơ quan tỉnh, huyện, các trạm hành lang và động viên nhân dân cùng với các lực lượng tỉnh, huyện tham gia bố phòng, hầm chông, cạm bẫy… thường xuyên tuần tra và sẵn sàng đánh địch khi chúng càn vào căn cứ và bảo vệ đường hành lang, kêu gọi nhân dân vùng căn cứ và các lực lượng tỉnh, huyện tích cực sản xuất lương thực… để có ăn, có dự trữ và đóng góp một phần cho cách mạng. Đồng thời, tổ chức mỗi buôn một tiểu đội du kích, toàn xã một trung đội tập trung.

Du kích và nhân dân vùng căn cứ sẵn sàng tham gia theo yêu cầu của cách mạng, cùng chiến đấu chống kẻ thù chung, tiêu biểu là một số phong trào đấu tranh của nhân dân căn cứ kháng chiến Nâm Nung, như trong tháng 12/1960, du kích tham gia cùng với tỉnh, huyện diệt 1 tên ác ôn, đốt phá 2 khu đồn Yân Ýu và Ýôt Linh; tháng 5/1961, du kích và dân quân phục vụ bộ đội đánh quận Đức Lập thắng lợi, bắt sống 4 tên ác ôn trong đó có một quận phó, sau đó mở phiên tòa xét xử tội ác có gần 100 người dân đến dự, trận đánh năm 1961 khi địch càn vào căn cứ kháng chiến Nâm Nung,...

Trước khí thế thắng lợi, quân và dân vùng căn cứ cũng như dân ở vùng còn tạm chiếm rất phấn khởi tin tưởng sự thắng lợi của cách mạng, tích cực tham gia một số nhiệm vụ được cách mạng giao càng khiến kẻ địch cay cú, chúng tăng cường đồn ở Đắk Sắk, núi lửa, Đắk Song, Đắk Gành; gom dân lập ấp chiến lược, tăng cường đánh phá vùng căn cứ bằng pháo; bộ binh càn nhiều ngày vào căn cứ và các tuyến hành lang đều bị lực lượng của tỉnh, huyện có sự tham gia của du kích chặn đánh liên tục.

- Củng cố, phát triển lực lượng vũ trang, an ninh tỉnh

Lúc đầu, tỉnh Quảng Đức được Đắk Lắk chi viện một trung đội người dân tộc Ba Na, chủ yếu hoạt động ở vùng Đức Lập để hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, Quân khu 6 đã điều động Tiểu đoàn chủ lực 186 (còn có tên gọi Tiểu đoàn Lá Bép) cơ động lên Quảng Đức. Huyện Đức Lập đã thành lập đơn vị C50 với quân số hơn 30 đồng chí đều là người dân tộc M’nông Preh, Êđê; lực lượng vũ trang tỉnh đã mở các đợt tiến công quân sự gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề, điển hình là các trận đánh vào Đức Lập (5/1961), tháng 6/1961, đơn vị C50 phục kích đánh một đơn vị địch càn vào căn cứ Nâm Nung, bắt sống được 1 tên địch. Tháng 11/1961, C30 đánh 1 đại đội địch càn vào căn cứ Nâm Nung trên đường chúng rút lui, phối hợp cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích đánh phá các ấp chiến lược mà địch mới hình thành như ấp Đắk Gành – Sapa, Cư Jút, Đức Minh, Đức Mạnh, Đắk Lao, ở Khiêm Đức có các ấp Hàng Nor-Sanar-Pang Sim.

Bên cạnh đó, lực lượng an ninh cũng được củng cố. Ngày 17/5/1962 thực hiện sự phân công của Thường vụ Khu ủy, về địa bàn Quảng Đức gồm có các đồng chí: Trần Quang Vinh (tức Ba Vinh), Trường Dân, đồng chí Liêm (tức Hiệp), Hồng Sơn (tức Điệp), Đinh Khương, Nguyễn Minh Toàn. Tiếp đó, tháng 6/1962, Ban An ninh Khu VI tăng cường về Quảng Đức thêm 3 đồng chí nữa là: đồng chí Tuấn, Khoa (tức Thanh) và Võ Bình, địa điểm ăn ở và làm việc của lực lượng An ninh Quảng Đức đều ở chung trong khối tổ chức và dân vận của Tỉnh ủy. Trong giai đoạn đầu do lực lượng còn ít nên Ban An ninh Quảng Đức chưa được thành lập, nhằm hỗ trợ cho các đội, mũi công tác, một số đồng chí được điều động tăng cường xuống địa bàn như: Đồng chí Nguyễn Minh Toàn xuống TĐ4 – E25, đồng chí Hồng Sơn xuống địa bàn Đức Xuyên, Khiêm Đức, đồng chí Liêm (tức Hiệp) xuống địa bàn Đức Lập, đồng chí Võ Bình biệt phái sang Hành lang, sau làm Trạm trưởng C20 (đóng ở suối Đắk Kễn – Cư Jút), đồng chí Khoa (tức Thanh) làm công tác bảo vệ nội bộ các cơ quan Tỉnh ủy và đồng chí Tuấn làm công tác bảo vệ chính trị.

Trước tình hình địch ra sức càn quét, đưa dân vào các ấp chiến lược, cán bộ an ninh liên lạc bám địa bàn trong điều kiện hết sức khó khăn, lực lượng mỏng, phong trào cách mạng trong vùng đồng bào dân tộc mới được nhen nhóm, tuy nhiên yêu cầu đặt ra lúc này là phải điều tra lên danh sách một số tên gây nhiều tội ác với nhân dân đang tiếp tục chống phá cách mạng. Lực lượng an ninh đã phối hợp với đội công tác, lực lượng vũ trang tiêu diệt nhiều ác ôn, cảnh sát có nợ máu, hạ uy thế bộ máy, đưa phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng từng bước phát triển.

Để chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, bộ đội và nhân dân, năm 1961, Tỉnh ủy Quảng Đức thành lập Ban Quân – Dân y do đồng chí Nguyễn Kinh (Sáu Kinh) phụ trách. Sau khi thông tuyến hành lang Bắc – Nam và Đông - Tây, tỉnh tiếp tục nhận thêm một số cán bộ y tế từ miền Bắc chi viện cho chiến trường Khu VI và Quảng Đức. Đến năm 1963, do nhu cầu khám chữa bệnh cho lực lượng cán bộ, thương binh ngày càng cao, tỉnh chỉ đạo phải thành lập bệnh xá tỉnh, đồng chí Đây phụ trách bệnh xá này tại Bắc Nâm Nung. Ban Dân – Quân y chuyên lo phục vụ các cơ quan trực thuộc Tỉnh ủy như Ban Binh địch vận, Tuyên huấn, An ninh, Kinh tài và các đội công tác; cấp phát thuốc (chủ yếu là thuốc sốt rét) thuốc sốt cho các bon căn cứ Bắc Nâm Nung. Ngoài ra, xây dựng hệ thống y tế từ tỉnh xuống 4 huyện hiện có, tuyên truyền công tác phòng bệnh trong các cơ quan, các bon làng vùng căn cứ thực hiện ăn chín uống sôi, vệ sinh nơi ở và hướng dẫn các biện pháp phòng chống chất độc hóa học…

- Phát động phong trào sản xuất tự túc, phục vụ kháng chiến

Trong những năm từ 1961 đến 1963, địch liên tục mở các đợt càn quét vào vùng căn cứ kháng chiến Nâm Nung, chúng càng đánh nhiều vào nương rẫy, rải chất độc tàn phá hoa màu, buôn, bon vùng căn cứ. Quân và dân gặp nhiều khó khăn, lương thực thiếu phải đào củ rừng ăn trong nhiều tháng. Đây là những năm tháng ác liệt, khó khăn đối với vùng căn cứ Nâm Nung, nhưng thắng lợi nhất là các cơ quan tỉnh, huyện, các tuyến hành lang và nhân dân vùng căn cứ (6 buôn) luôn bám trụ đánh được địch, bảo đảm an toàn, đường hành lang được thông suốt, nhất là dân vùng căn cứ giặc không gom được người dân nào vào ấp chiến lược.

(Còn nữa)

39,571
Viết bình luận mới
Thăm dò ý kiến

Một thời gian dài, tình trạng sạt lở do khai thác cát dọc sông Krông Nô, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông đã ảnh hưởng lớn đến đời sống sản xuất người dân. Trong khi đó, việc xử lý, khắc phục còn chưa triệt để. Theo bạn đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên?