HOTLINE: 01234 244 333   |   THÔNG TIN TÒA SOẠN   |   ĐẶT LÀM TRANG CHỦ
quà tặng doanh nghiệp

Nâm Nung - Vùng đất, con người và truyền thống

Cập nhật ngày: 13/04/2018 | 09:13 GMT+7

Lời Tòa soạn: Để cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ hơn về truyền thống cách mạng, về vùng đất và con người Đắk Nông, Báo Đắk Nông trân trọng giới thiệu một số nội dung trong cuốn sách “Lịch sử căn cứ kháng chiến Nâm Nung (1959-1975)” do Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo thực hiện, Nhà Xuất bản Lý luận Chính trị phát hành. Cuốn sách gồm 3 chương: Chương I: Vùng đất-Con người và truyền thống; Chương II: Tỉnh Quảng Đức được thành lập, đảm nhận nhiệm vụ xây dựng căn cứ và hành lang chiến lược địa bàn Tây Nguyên xuống chiến trường Đông Nam bộ (1954-1960); Chương III: Cuộc đấu tranh chống Mỹ và bảo vệ hành lang chiến lược Bắc-Nam trên địa bàn căn cứ kháng chiến Nâm Nung (1961-1975).

Hiện nay, di tích lịch sử cách mạng căn cứ kháng chiến Nâm Nung (còn gọi là căn cứ kháng chiến B4 – Liên tỉnh IV) gồm hai địa điểm Bắc Nâm Nung và Nam Nâm Nung thuộc địa bàn huyện Krông Nô và huyện Đắk Glong.

Núi Nâm Nung (Krông Nô). Ảnh: Ngọc Tâm

Di tích lịch sử cách mạng căn cứ kháng chiến Bắc Nâm Nung trải dài trên địa bàn xã Nâm Nung, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông. Phía Bắc giáp với xã Đắk Rồ, phía Đông Nam giáp với xã Nâm N’Dri, phía Tây Bắc giáp với xã Đắk Rồ và xã Đắk Môl, huyện Đắk Song, phía Nam giáp với xã Nâm N’Dri. Căn cứ kháng chiến Nam Nâm Nung nằm ở phía núi Nâm Jer Bri, trực thuộc địa phận Khu Bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung và Lâm trường Đắk N’Tao (nay là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đắk N’Tao) trên địa bàn xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong, phía Bắc giáp với xã Đắk Môl và Nâm N’Dri, huyện Krông Nô, phía Đông giáp với núi Yok Nor Tou Rdéh, phía Tây giáp với xã Đắk N’Drung và phía Nam giáp với suối Đắk Rung.

Căn cứ kháng chiến Nâm Nung thuộc vùng đất cao nguyên có địa hình hiểm trở, nhiều đồi núi, rừng rậm nguyên sinh, đỉnh cao nhất là 1.546m so với mực nước biển, tạo thế liên hoàn theo hướng Đông Nam. Từ Nâm Nung nối liền với xã Nâm Xoni là căn cứ vững chắc của huyện Khuyên Đức nối liền dãy núi Tà Đùng, phía Tây dãy Tà Đùng là xã Quảng Khê (huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông), phía Nam là căn cứ kháng chiến tỉnh Lâm Đồng, tạo thành địa thế hiểm trở, núi liền núi, sông liền sông, tạo thế vững chắc cho căn cứ kháng chiến của tỉnh Quảng Đức, Lâm Đồng... trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; thuận lợi cho việc đóng quân, xây dựng và bảo toàn lực lượng cách mạng, đi lại và chiến đấu trong vùng căn cứ.

Đất đai màu mỡ, chủ yếu là đất đỏ bazan, được thiên nhiên kiến tạo nhiều ao hồ, đầm lầy, suối rạch, thuận lợi cho việc phát triển cây lương thực, thực phẩm vừa bảo đảm cho nhu cầu lương thực tại chỗ phục vụ cuộc kháng chiến trường kỳ, thuận lợi cho phát triển cây nông, công nghiệp, như: lúa, ngô, khoai, sắn, cà phê, bông, hồ tiêu,…

Nơi đây chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm. Một năm chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 (dương lịch), mùa khô từ tháng 11 đến cuối tháng 3 năm sau. Mưa nhiều vào tháng 7, tháng 8, tháng 9, nắng nhiều vào tháng 1, tháng 2. Lượng mưa bình quân hàng năm khoảng 2.178mm. Độ ẩm trung bình năm là 81%. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,2o. Nói chung khí hậu nơi đây tương đối mát mẻ, thuận lợi cho việc trồng, phơi sấy các sản phẩm nông, công nghiệp và chăn nuôi gia súc.

Trong tỉnh, đây là địa bàn quốc lộ 14 xuyên qua, là con đường huyết mạch giao lưu, buôn bán, trao đổi hàng hóa với các miền giữa các tỉnh Tây Nguyên với miền Đông Nam bộ. Căn cứ kháng chiến Nâm Nung có nhiều cảnh đẹp, là điều kiện tốt để xây dựng điểm văn hóa du lịch và góp phần phát triển kinh tế địa phương.
Địa bàn căn cứ kháng chiến Nâm Nung tập trung nhiều dân tộc anh em sinh sống, trong đó, dân tộc M’nông là dân tộc bản địa quần tụ lâu đời nhất nơi đây. Từ xa xưa, dân tộc M’nông được phân chia thành các nhóm địa phương như Pnông, Nông, Preh, Bu đâng, Đi Pri, Rơ lan, Chil…; mỗi nhóm địa phương vừa mang trong mình bản sắc chung của dân tộc M’nông, vừa mang một số sắc thái văn hóa riêng của các nhóm địa phương. Vùng căn cứ kháng chiến Nâm Nung với 7 bon đồng bào dân tộc M’nông Preh và 5 bon Nam Nâm Nung là đồng bào dân tộc Prơng…

Người M’nông sống chủ yếu bằng nông nghiệp, canh tác trên đất rẫy là chính. Theo tập quán lâu đời, việc sử dụng đất rẫy (mir) của đồng bào thường theo chế độ luân khoảnh khép kín và luân khoảnh mở rộng. Thời gian luân khoảnh trên đám rẫy tùy thuộc vào độ phì nhiêu của đất đai. Mỗi bon của người M’nông đều có một khu vực canh tác nhất định. Ranh giới đất đai của các bon thường được dựa vào những đặc điểm địa lý tự nhiên như ngọn suối, mỏm đá, đỉnh đồi… để làm mốc phân giới, do các chủ bon liên giới với nhau quy ước, thường đã xác định từ xa xưa và lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác.

Cùng với kinh tế nương rẫy, người M’nông còn chăn nuôi gia súc gia cầm; săn bắt và hái lượm. Một số nghề thủ công của người M’nông đã đạt tới trình độ khá tinh tế như nghề dệt vải có hoa văn, đan lát đồ dùng gia đình bằng mây tre lá, nghề rèn cũng khá phổ biến nhằm rèn công cụ, sửa chữa những đồ dùng bằng sắt, rèn vũ khí (lao, xà gạc…) và một số công cụ khác bằng kim loại.

Truyền thống văn hóa đồng bào dân tộc trên địa bàn Nâm Nung, đặc biệt là nền văn hóa của dân tộc bản địa M’nông, Êđê… hết sức đặc sắc, gắn với hệ thống nghi lễ - lễ hội, liên quan chặt chẽ đến hệ thống thần linh và tín ngưỡng đa thần. Là những cư dân nông nghiệp, nên các lễ nghi đều phục vụ cho đời sống sinh hoạt hàng ngày, gắn với nông nghiệp hết sức phong phú như lễ trừ sâu bệnh, lễ cúng giữa vụ lúa, lúc lúa trổ đòng, lễ tuốt lúa, lễ cơm mới; những nghi lễ trong tang lễ, cưới hỏi, lễ lập bon mới,…

Trong lúc thanh bình cũng như trong quá trình kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, đồng bào các dân tộc nơi đây vẫn duy trì, tổ chức nhiều nghi lễ, lễ hội truyền thống đậm dấu ấn văn hóa đặc trưng của dân tộc, trong đó có lễ mừng chiến thắng vẫn được tổ chức trong kháng chiến. Có thể nói, những nghi lễ, lễ hội trên địa bàn Nâm Nung nói riêng, vùng Tây Nguyên nói chung rất phong phú, đa dạng, là chất keo gắn kết những con người của cộng đồng thành một khối vững chắc trong suốt quá trình lịch sử lâu dài của dân tộc.

Trong quá trình lịch sử và cuộc sống hàng ngày của người M’nông, họ đã sáng tạo ra được một số loại nhạc cụ độc đáo, tuy còn rất thô sơ nhưng phong phú về số lượng và chủng loại: Bộ gõ có dàn chiêng (cĩng), trống (ding gơr), đàn môi (guốc)… Ca hát dân gian rất phong phú và đa dạng, hình thức truyền miệng được coi là phương tiện chủ yếu của đồng bào dùng để chuyển tải văn hóa từ vùng này sang vùng khác, từ đời này qua đời khác, tiêu biểu là những thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ, các luật tục dưới dạng văn vần hay hát đối đáp nam – nữ.

Trong trang phục hàng ngày, nghệ thuật tạo hình được thể hiện rất sinh động. Hoa văn trên nền vải của người M’nông chủ yếu tạo hình theo một mô tuýp truyền thống được cách điệu bằng nhiều hình thức khác nhau. Đàn ông thường đóng khố, rộng chừng 20cm và dài trên 1cm, đàn bà quấn yêng, lấy khăn che ngực. Trong những dịp lễ tết, đàn ông còn mặc thêm một cái áo ngắn không cổ, hở bụng và đàn bà thường quấn yêng màu tím đỏ. Cộng thêm vào đó là những trang sức đi cùng phục trang rất đa dạng. Họ thường đeo những vòng đồng, đeo chồng chất ở cổ tay, cổ chân, càng đeo nhiều càng thể hiện sự giàu sang.

Cũng như các dân tộc khác trên toàn miền sơn nguyên Nam Đông Dương, M’nông vùng căn cứ Nâm Nung là dân tộc có tinh thần yêu độc lập tự do, có truyền thống bất khuất chống xâm lược. Đặc biệt, từ những thế kỷ xa xưa đến thời kỳ cận đại, họ là những dân tộc luôn gìn giữ được cuộc sống độc lập tự do cho quê hương. Khi kẻ thù xâm lược tàn phá quê hương, bon rẫy thì tinh thần yêu nước cũng được nhen nhóm và bùng nổ, kiên cường đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ quê hương.

Những cuộc đấu tranh trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời

Năm 1856, trong lúc triều đình nhà Nguyễn khủng hoảng trầm trọng, nông dân khắp nơi nổi dậy, chính quyền phong kiến ở nhiều địa phương bị tê liệt. Bên ngoài giặc Pháp đang lăm le tìm cớ để vũ trang xâm lược Việt Nam. Nắm được thời cơ thuận tiện, các giáo sĩ ở hội thánh Ba Na liền lập ngay một tòa đại lý ở Kon Tum để cai trị xứ này. Tòa đại lý gồm những quan cai trị mặc áo đen, đeo thập ác, từ năm 1889 trở về sau trực thuộc vào chính quyền của thực dân Pháp ở Lào.

Sau nhiều năm truyền đạo, thăm dò nghiên cứu, khảo sát về cảnh quan địa lý, phong tục, tập quán, tìm hiểu về tình hình chính trị trên địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số tại Nam Tây Nguyên (địa bàn Nâm Nung và vùng lân cận), thực dân Pháp đã dùng lực lượng quân sự đánh chiếm, bình định và thống trị vùng này.

Khu khánh tiết và Tượng đài chiến thắng Khu di tích căn cứ kháng chiến B4 -  Liên tỉnh IV. Ảnh tư liệu

Năm 1905, thực dân Pháp chính thức bãi bỏ chế độ “Sơn phòng” của triều đình nhà Nguyễn, trực tiếp đảm nhiệm các vấn đề kinh tế, chính trị và an ninh trên địa bàn lãnh thổ các tỉnh Tây Nguyên.

Với chế độ thuế khóa của thực dân Pháp, hàng năm, mỗi người Ê đê, M’nông và các dân tộc khác ở Đắk Lắk phải nộp cho chính quyền thực dân một khoản tiền thuế thân và đi làm phu 20 ngày. Cùng với các loại thuế khác như thuế nóc nhà, thuế làm rẫy, thuế voi. Ngoài ra, chính quyền thực dân còn bày ra các chế độ phạt vạ đối với các dân tộc bản địa như: phạt làm hỏng đường sá, phạt làm hỏng các cây, chống lại chính quyền.

Đồng thời, thực dân Pháp đã khuyến khích tất cả các nhà nông nghiệp Pháp đầu tư vốn mở mang đồn điền cây công nghiệp như chè, cà phê, cao su, tại những vùng đất rộng lớn trên địa bàn cư trú của người M’nông, Ê đê. Hàng chục đồn điền trồng cây công nghiệp của tư sản Pháp lần lượt được dựng lên như đồn điền Ca Đa, Đắk Nia, đồn điền lúa ở Nâm Kạ,… Quy mô các đồn điền này ngày càng mở rộng, tỷ lệ thuận với chế độ bắt xâu đối với đồng bào địa phương ngày càng ráo riết và tàn bạo.

Bên cạnh chính sách khai thác kinh tế, thực dân Pháp tập trung ở Tây Nguyên một lực lượng quân sự khá mạnh, ngay tại thị xã Buôn Ma Thuột có một trung đoàn lính khố đỏ (quân cơ động) thường trực là một quan năm (đại tá) chỉ huy và một tiểu đoàn lính khố xanh (quân địa phương) do một quan tư (thiếu tá) chỉ huy.

Năm 1899, thực dân Pháp đã thiết lập tòa Đại lý hành chính tại Bản Đôn (Buôn Đôn). Ngày 22/11/1904, tỉnh Đắk Lắk được chính thức thành lập, tỉnh lỵ đóng tại Buôn Ma Thuột. Từ đây, bộ máy cai trị của chính quyền thực dân Pháp được thiết lập xuống tới các bon, buôn của đồng bào các dân tộc ở Nam Tây Nguyên với mục đích nhằm cắt đứt mọi liên lạc giữa vùng đồng bằng Việt Nam và miền sơn nguyên Nam Đông Dương, một số khu vực đã bình định ở bên kia sông Đắk Sal, Krông Nô sẽ được ngăn chặn nghiêm ngặt.

Cùng với việc cai trị về kinh tế, quân sự, thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu dân” để hòng dễ cai trị vùng Tây Nguyên. Chúng chỉ mở một số trường sơ học bên cạnh một số trường Giáo phận dùng để truyền giáo. Ngoài ra, trên phương diện văn hóa, chúng chỉ thị các tỉnh trưởng Pháp có nhiệm vụ điều chế và góp nhặt tất cả những phong tục tập quán của người sơn cước.

Dưới chiêu bài “bảo vệ và phát triển các chủng tộc Thượng” hoặc “không đụng chạm đến văn hóa bản địa”, ngăn cấm đến mức tối đa sự tiếp xúc liên lạc giữa người sơn cước Việt Nam và người đồng bằng, thực dân Pháp đã tạo điều kiện duy trì và khuyến khích phục hồi những hủ tục, mê tín dị đoan trong nhân dân. Mặt khác, mọi sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, các vùng đều bị cấm.

Chính sách của Pháp trên các mặt trận chính trị - quân sự, kinh tế và văn hóa – xã hội đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của các dân tộc trên toàn miền sơn nguyên Nam Đông Dương. Trước nguy cơ bị một kẻ thù lớn mạnh cướp mất cuộc sống độc lập và tự do tổ tiên giữ được, các dân tộc miền sơn nguyên Nam Đông Dương hoặc lẻ tẻ, hoặc liên minh phối hợp với nhau vùng lên chống lại bọn xâm lược, đánh vào các đồn bót và cuộc hành quân của giặc; chống thuế, chống xâu, hay lánh cư, bất hợp tác, không phục tùng…

Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp trên địa bàn căn cứ kháng chiến Nâm Nung

Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược của các dân tộc ở Tây Nguyên ngay từ khi thực dân Pháp vừa đặt chân đến vùng đất này đã diễn ra liên tục và mạnh mẽ. Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa do N’Trang Gưh lãnh đạo (1900-1914) và đỉnh cao là phong trào chống thực dân Pháp của đồng bào M’nông dưới sự lãnh đạo của N’Trang Lơng kéo dài gần một phần tư thế kỷ (1912-1936).

N’Trang Gưh là người Bih (một nhóm của dân tộc Ê đê), quê ở buôn Choáh (nay thuộc buôn Choáh, xã Buôn Choáh, huyện Krông Nô). Không chịu khuất phục trước kẻ thù, năm 1900, N’Trang Gưh kêu gọi đồng bào Bih và các dân tộc anh em trong vùng nổi dậy đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược và bảo vệ quê hương.

Ngày 1/3/1900, quân Pháp đánh chiếm các buôn của người Bih dọc lưu vực sông Krông Nô và Krông Ana. Ở đây, ngoài sự hỗ trợ của lực lượng nghĩa quân do tù trưởng Y Kơn dẫn đầu, vị thủ lĩnh N’Trang Gưh đã lãnh đạo nghĩa quân chiến đấu dũng cảm, chuyển thế từ bị động sang chủ động, bao vây tên chỉ huy Pháp – Bourgeois, khiến hắn phải rút lui. Trên đường tháo chạy, quân Pháp đốt phá tàn trụi buôn Tur và Buôn Trấp (nay là thị trấn Buôn Trấp, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk).

Hai ngày sau (3/3/1900), tên Bourgeois đem quân trở lại, vượt sông Krông Nô tiến đánh buôn Choáh. Đây không chỉ là cái nôi mà còn là trung tâm hoạt động trọng yếu của nghĩa quân. Do vậy, Bourgeois tập trung một lực lượng quân lớn xông vào đốt phá buôn Choáh, bắt, giết nhiều người vô tội. Sau nhiều đợt chống trả quyết liệt, biết không thể đánh nổi lực lượng hùng hậu của địch, để dưỡng binh và bảo toàn lực lượng, N’Trang Gưh và nghĩa quân đưa bà con trong buôn tạm lánh trong cánh rừng gần buôn Choáh hướng về phía Nam.

Sau một thời gian chỉnh đốn lực lượng, N’Trang Gưh cùng với nghĩa quân trở lại buôn Choáh, quyết tâm giải phóng buôn làng. Năm 1901, hơn 600 nghĩa quân dưới sự chỉ huy của N’Trang Gưh đã vượt sông Krông Nô tấn công, bao vây đồn buôn Tur, bắn hàng loạt tên vào đồn giặc, toàn bộ quân xâm lược bị tiêu diệt, tên đồn trưởng Bourgeois chết gục trước sân đồn, người cắm đầy tên.

Sự có mặt của lực lượng khởi nghĩa do N’Trang Gưh lãnh đạo cách Buôn Ma Thuột khoảng 15-30 km là mối đe dọa lớn đối với âm mưu đô hộ và bình định của thực dân xâm lược. Vì vậy, từ năm 1901 đến 1913, quân Pháp ở Buôn Ma Thuột liên tục mở nhiều cuộc hành quân khá quy mô, càn quét, đánh phá nghĩa quân, nhằm tiêu diệt và thôn tính phong trào đấu tranh yêu nước của người Ê đê, đặt ách cai trị và bóc lột vùng đất này. Nghĩa quân N’Trang Gưh đã chiến đấu dũng cảm, bảo vệ quê hương trong suốt 13 năm.

Trước sức kháng cự mạnh mẽ của phong trào khởi nghĩa N’Trang Gưh, thực dân Pháp đã huy động lực lượng quân sự mở nhiều cuộc hành quân quy mô lớn, quyết tâm tiêu diệt bằng được phong trào khởi nghĩa của N’Trang Gưh. Trước tình hình đó, năm 1913 N’Trang Gưh chỉ huy nghĩa quân cùng đồng bào buôn Choáh tạm lánh vào rừng. Cùng đi với nghĩa quân là 250 gia đình người Bih tiến vào phía Nam lưu vực sông Sêrêpốk, xây dựng buôn mới, tiếp tục cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp.

Năm 1914, giặc hành quân bao vây tấn công khu vực đóng quân của N’Trang Gưh. Trong tình thế tương quan lực lượng quá chênh lệch nên khu vực đóng quân của nghĩa quân N’Trang Gưh rơi vào tay giặc, chúng đã bắt và giết thủ lĩnh N’Trang Gưh. Sau khi N’Trang Gưh mất, phong trào đấu tranh đi vào thoái trào và kết thúc.

Phong trào yêu nước của Nghĩa quân N’Trang Gưh đã thực sự là ngòi nổ kích hoạt phong trào chống giặc giữ làng của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên. Phong trào khởi nghĩa do N’Trang Gưh lãnh đạo phát triển mạnh mẽ nhưng cuối cùng đã bị thất bại, thực dân Pháp ngày càng tăng cường thống trị Tây Nguyên. Tuy nhiên, tinh thần đấu tranh chống kẻ thù vẫn luôn bền bỉ, đợi thời cơ tiếp tục bùng lên đấu tranh. Chính vì vậy, khi thủ lĩnh N’Trang Lơng đứng lên đấu tranh, nhân dân các dân tộc trong vùng căn cứ Nâm Nung đã sẵn sàng đứng lên cùng đấu tranh chống kẻ thù xâm lược trong những năm 1912-1936.

N’Trang Lơng sinh khoảng năm 1870, gốc người M’nông Biêt. Từ khi đứng lên đánh Pháp, N’Trang Lơng đã tập hợp được nhiều thủ lĩnh, đầu làng của đồng bào các dân tộc như B’Heng Reng, R’Đing, R’Ong Leng, N’Xinh. Họ là những thủ lĩnh yêu nước, là những cánh tay đắc lực của N’Trang Lơng. N’Trang Lơng cùng các thủ lĩnh tiến hành xây dựng căn cứ địa kháng chiến tại thung lũng rừng già Bu Siết (tức B Jeng Kiet hay Bu Jang Chet) giáp ranh với Bu N’Drung ở thượng nguồn suối Buk Xô thuộc núi Nâm Nung. Đây là cơ quan đầu não của nghĩa quân, với lực lượng từ 150-170 tay súng. Phần lớn nghĩa quân là người M’nông Biêt và M’nông Nông do N’Trang Lơng trực tiếp chỉ huy. Họ xây dựng lán trại, kho lương, nhà chứa vũ khí, đào hầm, cắm chông gài bẫy xung quanh căn cứ. Bên cạnh căn cứ là những nương rẫy trồng lúa, bắp để thực hiện nhiệm vụ tự túc lương thực cho nghĩa quân chiến đấu.

Cuối năm 1908, Henri Maitre được chỉ định cầm đầu “Phái bộ khảo sát – hành chính Đông Cao Miên”. Hắn ra sức khủng bố giết chóc đồng bào Tây Nguyên, đàn áp buôn làng. Khi đánh phá quê hương N’Trang Lơng, Henri Maitre đã bắt bớ, hãm hiếp vợ và con gái ông. Để trả nợ nước, thù nhà, N’Trang Lơng đứng lên lãnh đạo nhân dân các dân tộc M’nông, Ê đê đấu tranh. Phong trào mở đầu bằng trận đánh đồn Pu Sra giành thắng lợi vào năm 1912. Chiến thắng Pu Sra làm nức lòng dân chúng và làm tên tuổi N’Trang Lơng vang dội khắp Tây Nguyên.

Vào mùa khô 1913-1914 trên cao nguyên M’nông, phong trào xây dựng làng chiến đấu chuẩn bị chống giặc diễn ra rầm rộ, đặc biệt trong nguồn sông Đắk Huich. Ngày 30/7/1914, N’Trang Lơng đã lập mưu, dựng nên lễ “kết minh” tiêu diệt tên Henri Maitre và đồng bọn của hắn. Ngày 31/7/1914, N’Trang Lơng lãnh đạo nghĩa quân tiến đánh đồn Bu Mêra, tiêu diệt toàn bộ lính và chỉ huy còn lại trong đồn, nghĩa quân thu toàn bộ vũ khí và đồ tiếp tế của địch.

Năm 1915, sau chiến thắng Bu Tiên, N’Trang Lơng cùng nghĩa quân tiếp tục giành nhiều chiến thắng. Vì thế, quân Pháp co hẳn về vùng châu thổ tỉnh Kratie – Cao Miên, lập một hành lang an toàn gồm các đồn do các đội khố xanh để chặn đường nghĩa quân đánh xuống vùng châu thổ. Cả một vùng M’nông rộng lớn thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp trong thời gian dài (1916-1927).

Năm 1928, thực dân Pháp lộ rõ âm mưu chính thức xâm chiếm trở lại cao nguyên M’nông, chúng tập trung ra sức tìm  diệt N’Trang Lơng. Trong những năm 1918-1934, phong trào khởi nghĩa do N’Trang Lơng lãnh đạo vẫn liên tục nổ ra, thách thức và chiến đấu chống thực dân Pháp quyết liệt.

Tháng 10/1931, tên Patkiê – toàn quyền Đông Dương và Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương trực tiếp chỉ đạo thực hiện kế hoạch tiêu diệt bằng được phong trào khởi nghĩa do N’Trang Lơng lãnh đạo. Trước tình thế bất lợi đó, để bảo toàn lực lượng, N’Trang Lơng cùng các thủ lĩnh quyết định rút quân về dãy núi Nâm Nung lập căn cứ kháng chiến. Tại đây, nghĩa quân đã xây dựng căn cứ kháng chiến, đào hầm chông, giếng chông làm bẫy đá, bẫy chông… tạo thành một địa bàn “bất khả xâm phạm”. Ngoài ra, nghĩa quân còn tham gia trồng trọt, tự túc về lương thực, thực phẩm, đồng thời làm điểm tụ quân, xuất quân đánh địch. Tại đây, N’Trang Lơng và các thủ lĩnh nghĩa quân đã kêu gọi đồng bào bản địa cùng tham gia kháng chiến, bỏ làng vào rừng, bất hợp tác với giặc Pháp. Đồng bào đã hăng hái, sẵn sàng tham gia cùng nghĩa quân N’Trang Lơng chiến đấu chống kẻ thù.

Trong hai tháng 2 và tháng 3/1933, thực dân Pháp huy động lực lượng lớn, có pháo binh yểm trợ, từ nhiều hướng mở cuộc càn quét với quy mô lớn, tiến công vào căn cứ Nâm Nung – một trong những căn cứ quan trọng của nghĩa quân N’Trang Lơng. Cánh quân thứ nhất do tên Gerber chỉ huy, xuất phát từ Bu Đengum tiến đánh vào phía Đông núi Nâm Nung; cánh quân thứ hai, xuất phát từ căn cứ Lơrôlăng của Pháp (bên kia biên giới Campuchia) đánh vào hướng Tây Nam núi Nâm Nung; cánh quân thứ ba, xuất phát từ Bù Đốp (Đông Nam bộ) tiến đánh vào phía Nam núi Nâm Nung. Trong cuộc càn quét này, giặc Pháp vừa tấn công bằng quân sự, vừa đốt phá nương rẫy, buôn, bon và rừng núi của người M’nông tại vùng căn cứ Nâm Nung để triệt nguồn lương thực, nhằm dồn đồng bào M’nông và nghĩa quân N’Trang Lơng vào cảnh thiếu đói. Nghĩa quân N’Trang Lơng chống trả giặc Pháp rất quyết liệt. Nhiều trận đánh diễn ra tại vùng căn cứ Nâm Nung, tiêu diệt hàng trăm tên địch. Cuộc chiến giằng co, kéo dài, phong trào khởi nghĩa N’Trang Lơng vẫn liên tiếp đánh địch ở nhiều nơi.

Bước vào mùa khô 1934-1935, khắp cao nguyên M’nông, đồng bào M’nông, Ê đê và S’tiêng lại nổi lên rào làng, dấp rừng chống Pháp. Cuộc đối đầu ngày càng quyết liệt giữa nghĩa quân N’Trang Lơng và giặc Pháp. Giặc Pháp truy lùng ráo riết buộc nghĩa quân phải không ngừng di chuyển, nhưng khi giáp mặt với quân thù, nghĩa quân chiến đấu rất anh dũng. Từ đầu tháng 5/1935, chúng tung quân ra sức truy lùng nghĩa quân N’Trang Lơng, bất chấp các cơn mưa đầu mùa xối xả, núi cao, rừng sâu. Trong hoàn cảnh đó, N’Trang Lơng tạm lánh về quê cũ, ẩn náu trong một vùng rừng gần Bu Par, chuẩn bị lực lượng tiếp tục chiến đấu chống kẻ thù. Tuy nhiên, do bị tên phản bộ Bơ Mpông Phê chỉ điểm và đưa quân Pháp đến bao vây. Tại đây, diễn ra trận chiến đấu, bất ngờ và không cân sức, ông bị quân Pháp bắn bị thương và mất ngày 23/5/1935.

N’Trang Lơng hi sinh, nghĩa quân của ông vẫn tiếp tục chiến đấu chống thực dân Pháp trên cao nguyên M’nông. Phong trào khởi nghĩa N’Trang Lơng đi vào thoái trào và đánh dấu kết thúc vào năm 1936. Ảnh hưởng của phong trào khởi nghĩa N’Trang Lơng, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên lại đứng lên đấu tranh chống kẻ thù. Kiên cường, bất khuất, phong trào này lắng xuống, phong trào khác lại nổi lên, người trước ngã người sau tiếp bước, cuộc chiến đấu của nhân dân Tây Nguyên lúc sôi nổi, mãnh liệt, lúc tạm thời âm ỉ chờ thời cơ lại bùng lên với khí thế mạnh liệt hơn. Tuy nhiên, do thiếu một đường lối lãnh đạo đúng đắn, nên những cuộc đấu tranh đó vẫn chưa đưa lại kết quả thắng lợi cuối cùng.

Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945

Phong trào đấu tranh dưới sự lãnh đạo của những thủ lĩnh yêu nước như Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng, N’Trang Gưh, N’Trang Lơng, Săm Brăm,… diễn ra rất anh dũng song cuối cùng đều thất bại. Điều đó cho thấy, cách mạng Việt Nam còn thiếu đường lối lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930, là bước ngoặt lịch sử, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước và vai trò lãnh đạo của một chính Đảng cách mạng Việt Nam.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố thành lập, thực dân Pháp ở Đông Dương càng ra sức đàn áp, khủng bố và bóc lột nhân dân ta. Ở Tây Nguyên, thực dân Pháp đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa, tiếp tục thành lập, xây dựng và mở rộng các đồn điền trồng lúa, chè, cà phê, cao su… Công nhân ở các đồn điền này là những người Êđê, M’nông, các dân tộc bản địa khác và người Kinh. Các chủ đồn điền người Pháp bóc lột công nhân, bần cùng hóa công nhân, biến họ thành lao động khổ sai tại các đồn điền của chúng.

Vởi bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, lực lượng công nhân tại các đồn điền của Pháp đã từng bước giác ngộ về quyền lợi giai cấp, đoàn kết chặt chẽ cùng đấu tranh giành quyền dân sinh, dân chủ, góp phần vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phong trào công nhân tại các đồn điền của tư bản Pháp ở Nam Tây Nguyên, tuy chưa có sự lãnh đạo trực tiếp của các cơ sở đảng, nhưng vẫn là một bộ phận của cuộc vận động giải phóng dân tộc do Đảng lãnh đạo.

Những cao trào cách mạng diễn ra ở miền xuôi đã tạo ra và rèn luyện đội ngũ cán bộ của cách mạng đông đảo. Hàng nghìn chiến sĩ cách mạng bị bắt, bị đày ải qua các nhà tù đế quốc, trong đó có nhiều chiến sĩ cộng sản ưu tú, có trình độ, kinh nghiệm tuyên truyền và khả năng tập hợp, tổ chức quần chúng. Trong các lao tù, thực dân Pháp thực thi chính sách giam cầm và tra tấn các tù nhân chính trị, các chiến sĩ cách mạng vô cùng dã man và hiểm độc, hòng tiêu diệt phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam.

Trong đó, thực dân Pháp đã dựng lên một hệ thống các nhà tù ở Trung Kỳ và Tây Nguyên nhằm khai thác sức lao động khổ sai phục vụ cho việc mở đường, lập đồn điền và độc ác hơn là lấy khí hậu khắc nghiệt “rừng thiêng nước độc” để tiêu diệt ý chí cách mạng, lấy đói rét, bệnh tật để giết chết các tù nhân chính trị.

Năm 1940, do số lượng tù chính trị tại nhà đày Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) ngày càng đông và để phục vụ việc thi công tuyến đường qua cao nguyên M’nông, thâm hiểm hơn là hằm thủ tiêu những chiến sĩ yêu nước, kiên cường của cách mạng Việt Nam, thực dân Pháp lập thêm một nhà ngục tại Đắk Mil (thuộc tỉnh Đắk Lắk).

Đầu năm 1941, đoàn tù đầu tiên bị đày tới ngục Đắk Mil là các tù chính trị từ nhà đày Buôn Ma Thuột. Để tiếp tục đấu tranh tại ngục Đắk Mil, các tù nhân đã lựa chọn và bầu ra Ban chỉ đạo đầu tiên của nhà ngục gồm các đồng chí Trần Văn Quang, Nguyễn Tạo, Kinh, Hòa, Tring, Bửu, Toàn… Ban chỉ đạo đề ra chủ trương trong giai đoạn này là nhanh chóng chuẩn bị chiến đấu, chống đàn áp, bảo vệ quyền lợi tù nhân và tổ chức vượt ngục.

Phong trào đấu tranh của các chiến sĩ cộng sản tại đây đã giành nhiều thắng lợi, như: Đầu năm 1942, tù nhân đấu tranh thắng lợi, tổ chức được Tết đầu tiên tại nhà ngục, tù nhân được nghỉ 3 ngày, được diễn tuồng, ngâm thơ, đánh cờ tướng và trang trí câu đối Tết; cuối tháng 6/1942, tù nhân ngục Đắk Mil thành công trong việc phá lò gạch của địch, khoảng 38.000/40.000 viên gạch ra lò bị hỏng, góp phần phá vỡ kế hoạch mở rộng nhà ngục của địch,… Những chiến sĩ cộng sản không chỉ biến nhà tù thành trường học đấu tranh cách mạng, rèn luyện khí tiết mà hơn thế nữa, vượt ra khỏi chế độ lao tù hà khắc, họ đã gieo những hạt giống đó, những tư tưởng cộng sản trên mỗi mảnh đất quê hương nơi các đặt chân tới.

Chính việc thực dân Pháp tăng cường đày ải tù chính trị cộng sản lên Tây Nguyên, dù muốn hay không chúng đã đưa những người có tư tưởng cộng sản đến với mảnh đất, với quần chúng chưa giác ngộ lý tưởng đấu tranh cách mạng.

Hoạt động của các tổ chức và phong trào đấu tranh cách mạng trong tù vượt qua sự ngăn chặn, bưng bít của kẻ thù, đến với đồng bào các dân tộc, thổi bùng ngọn lửa đấu tranh cách mạng luôn âm ỉ trong những người con của núi rừng Tây Nguyên.

Phong trào đấu tranh của  các dân tộc Tây Nguyên, với nhân dân trên địa bàn Nâm Nung chịu ảnh hưởng và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản qua phong trào đấu tranh của chiến sĩ cách mạng tại nhà đày Buôn Ma Thuột và nhà ngục Đắk Mil. Được sự giác ngộ của các chiến sĩ cộng sản, có những người từng là cai tù, binh lính trước đây theo Pháp đã bỏ ngũ đi theo cách mạng, giữ vị trí quan trọng và có nhiều đóng góp cho Đảng, cho nhân dân, như ông Quản Lé (tức đồng chí YBih Alêo).

Năm 1943 chi bộ cộng sản được thành lập trong nhà ngục Đắk Mil do đồng chí Nguyễn Tạo làm Bí thư. Chi bộ cộng sản đã lãnh đạo phong trào đấu tranh tại nhà ngục Đắk Mil, điển hình là tổ chức các cuộc vượt ngục, đưa một số chiến sĩ cách mạng tiếp tục hoạt động cách mạng.

Tháng 3/1943, cuộc vượt ngục đầu tiên thành công, đưa các đồng chí Nguyễn Tạo, Trương Vân Lĩnh, Chu Huệ, Trần Ngọc Oánh về với cách mạng, tiếp tục hoạt động. Đây là một thành công lớn, đánh dấu một bước tiến mới trong việc tổ chức bộ máy lãnh đạo cách mạng đối với tù chính trị trên địa bàn Tây Nguyên.

Cuộc vượt ngục Đắk Mil lần thứ hai gồm các đồng chí Nguyễn Khải, Trần Tống, Vũ Nhân vào năm 1943. Tuy thực dân Pháp đã bắn chết 4 tù nhân đẩy xe đưa các đồng chí vượt ngục để khủng bố tinh thần tù nhân, nhằm ngăn chặn các vụ vượt ngục tiếp theo nhưng đã đánh dấu sự thất bại trong âm mưu của thực dân Pháp. Vì vậy, vào cuối năm 1943, thực dân Pháp đã chuyển toàn bộ số tù nhân ở đây về nhà đày Buôn Ma Thuột và cho phá hủy nhà ngục Đắk Mil.

Thất bại của thực dân Pháp ở Đắk Mil chứng tỏ rằng, chính sách khủng bố cực kỳ dã man của kẻ thù không thể ngăn trở được bước tiến của cách mạng mà trái lại đã rèn luyện người tù cộng sản càng thêm vững vàng, bền bỉ quyết chí đấu tranh đến thắng lợi cuối cùng. Ngục Đắk Mil chính là “gậy ông đập lưng ông”, chính nơi xa xôi hẻo lánh của ngục Đắk Mil đã nhóm lên ngọn lửa cách mạng của Đảng ở Đắk Mil. Ngọn lửa cách mạng đã lan truyền cho những phong trào, những thắng lợi to lớn của vùng Đắk Nông trong những giai đoạn kế tiếp.

Từ cuối năm 1943, Pháp đưa những chiến sĩ cách mạng từ nhà ngục Đắk Mil về giam ở nhà đày Buôn Ma Thuột. Tại đây, những tù nhân chính trị tiếp tục tổ chức đấu tranh với nhiều hình thức, góp phần tạo nên một đội ngũ cán bộ cốt cán, kiên trung, được trải nghiệm trong đấu tranh cách mạng, để cùng toàn dân tộc làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 vĩ đại!.

Bước sang năm 1945, tình hình thế giới và trong nước có những chuyển biến thuận lợi cho phong trào cách mạng ở Đông Dương. Trước nguy cơ thất bại hoàn toàn, ngày 9/3/1945, phát xít Nhật tiến hành đảo chính, thay thế thực dân Pháp cai trị Đông Dương. Lúc này, Đảng ta xác định kẻ thù trực tiếp, trước mắt của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật và tay sai. Tháng Tám năm 1945, sau khi đánh bại phát xít Đức, Liên Xô tuyên chiến với Phát xít Nhật đánh tan đạo quân Quan Đông thiện chiến hơn một triệu tên của Nhật. Ngày 14/8/1945, Nhật hoàng phải tuyên bố đầu hàng Đồng Minh và Liên Xô không điều kiện.

Tại Đông Dương, tinh thần lực lượng quân đội Nhật suy sụp, chính quyền tay sai hoang mang cực độ. Thời cơ tổng khởi nghĩa đã đến. Trung ương Đảng và Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng ra lệnh tổng khởi nghĩa toàn quốc, giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 12/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, phát động cao trào kháng Nhật cứu nước trên toàn quốc.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp, theo chủ trương của Trung ương Đảng, ở Đắk Lắk nói chung, trên địa bàn Đắk Nông nói riêng đã đẩy mạnh cao trào kháng Nhật cứu nước, chuẩn bị mọi điều kiện tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền. Chi bộ cộng sản và các tổ chức cách mạng trong nhà đày Buôn Ma Thuột chủ trương tăng cường công tác tuyên truyền, giải thích đường lối, nhiệm vụ cách mạng, tiếp tục xây dựng cơ sở cách mạng, chống lại những luận điệu tuyên truyền phản động của phát xít Nhật và tay sai.

Ngày 23/8/1945, tại huyện lỵ Đắk Mil trong cuộc mít tinh của đông đảo quần chúng nhân dân trên địa bàn, đại diện Mặt trận Việt Minh huyện tuyên bố xóa bỏ chính quyền tay sai bù nhìn, thành lập Ủy ban cách mạng lâm thời huyện.

Đúng 15 giờ ngày 24/8/1945, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các chi bộ Đảng, 3.000 quần chúng cách mạng và gần 500 binh lính có vũ trang người M’nông, Êđê, Gia Rai đã đi theo cách mạng, từ các địa phương nhân dân đã hăng hái tham gia vào cuộc mít tinh, biểu tình lớn lật đổ chính quyền thực dân, phong kiến ở thị xã Buôn Ma Thuột. Đại diện Mặt trận Việt Minh tỉnh tuyên bố xóa bỏ chính quyền tay sai phản động của phát xít Nhật và thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân lao động, kêu gọi các tầng lớp nhân dân trong tỉnh ủng hộ chính quyền, tham gia xây dựng cuộc sống mới. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tại thị xã Buôn Ma Thuột thành công.

Tại các huyện, buôn, bon trong tỉnh Đắk Lắk,… dưới sự lãnh đạo của cán bộ, hội viên Việt Minh, nhân dân đứng lên giành chính quyền thắng lợi.

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công tại Đắk Lắk (bao gồm tỉnh Đắk Nông), góp phần vào thắng lợi chung của nhân dân cả nước. Thắng lợi này là kết quả cụ thể của cả một quá trình tuyên truyền, vận động của các chiến sĩ cách mạng, các đảng viên thuộc các chi bộ nhà đày Buôn Ma Thuột và nhà ngục Đắk Mil, là sự giác ngộ và tích cực hưởng ứng cao trào cách mạng do Đảng lãnh đạo, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Mặt trận Việt Minh.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nhân dân các dân tộc trên địa bàn Nâm Nung cùng nhân dân trong tỉnh Đắk Lắk hăng hái tham gia xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng từ cấp huyện, tổng đến các buôn, bon, thực hiện các chương trình của Mặt trận Việt Minh, bảo vệ chính quyền cách mạng, giữ gìn trật tự trị an, trừng trị bọn phản động.

Nhiều cơ sở cách mạng trên địa bàn được tham dự các lớp đào tạo cán bộ do Việt Minh tỉnh, huyện tổ chức. Sau khi kết thúc các lớp học đã trở về các buôn làng để xây dựng, củng cố chính quyền và các đoàn thể cách mạng cấp cơ sở, vận động nhân dân tham gia hạ đài kỷ niệm H.Maitre do Pháp dựng nên, xây dựng đài kỷ niệm N’Trang Lơng ở vùng ba ranh giới Bu Prăng và góp phần xây dựng đài tưởng niệm các chiến sĩ cách mạng đã hy sinh tại nhà ngục Đắk Mil và nhà đày Buôn Ma Thuột; xây dựng và phát triển các tổ chức đoàn thể quần chúng như Hội Thanh niên cứu cuốc, Hội Phụ nữ cứu quốc…

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát động phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, có nhiều cải tiến kỹ thuật làm nương rẫy, tổ chức làm lúa nước, tập kéo cày bằng sức trâu bò, tổ chức đánh cá, săn bắt để cải thiện thêm đời sống. Chính quyền cách mạng bãi bỏ các thứ thuế của chế độ thực dân phong kiến như thuế thân, thuế voi và các chế độ sưu dịch nặng nề. Tổ chức bán muối, gạo cho nhân dân, trao đổi hàng hóa, chủ yếu là nông, lâm, thổ sản đưa về miền xuôi buôn bán, đổi hàng hóa đem về phục vụ lại nhân dân địa phương.

Làm theo lời Bác, cùng cả nước thi đua diệt giặc dốt, nhân dân Nâm Nung và các vùng lân cận trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk tích cực hưởng ứng phong trào bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ. Các tàn tích của thực dân để lại được vận động xóa bỏ. Cán bộ các trạm y tế đã xuống tận các tổng, thôn, buôn để phục vụ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, Đảng bộ và chính quyền cách mạng tỉnh, huyện, nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã phát huy nhiệt tình cách mạng, bước đầu thực hiện có kết quả một số nhiệm vụ cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội góp phần vào thắng lợi chung của phong trào cách mạng của Tây Nguyên.

Thời gian này, chính quyền cách mạng tỉnh Đắk Lắk đã vận động được nhiều nhân sĩ, trí thức, công chức và cả các vị chỉ huy, binh lính người dân tộc thiểu số đã từng làm cho Pháp như: YBih Alêo, Y Blốc ÊBan, Y Blô, Y Wang, Y Ngông… tham gia chính quyền cách mạng càng làm tăng thêm niềm tin của nhân dân trong tỉnh vào chế độ mới. Tháng 10/1945, nhằm thực hiện các chủ trương tăng cường hơn nữa đoàn kết các dân tộc, tại Buôn Ma Thuột, Ủy ban hành chính miền Nam Trung bộ tổ chức “Hội chợ liên hoan đoàn kết giữa các dân tộc”, nhân dân trên địa bàn hăng hái tham dự trong không khí sôi động, đoàn kết dân tộc, đoàn kết Kinh – Thượng.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Tây Nguyên nói chung, Đắk Lắk nói riêng là thắng lợi của việc thực hiện sáng tạo đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống thực dân đế quốc và chống phong kiến, tập hợp, đoàn kết các dân tộc, trên nền tảng liên minh công nông. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng đã đánh giá đúng tình hình cụ thể của địa phương, nhạy bén nắm và hành động đúng thời cơ.

Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945, nhân dân Tây Nguyên càng củng cố thêm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, càng nhận thức sâu sắc là chỉ có đi theo con đường cách mạng do Đảng vạch ra mới thoát khỏi cảnh nô lệ lầm than, tiến tới giải phóng đất nước, xây dựng cuộc sống bình yên, hạnh phúc

Cùng cả nước tiếp tục cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai (1946-1954)

Cũng từ năm 1950, Trung ương Đảng đã chủ trương chuyển sang giai đoạn tổng phản công. Không khí cách mạng trên địa bàn căn cứ Nâm Nung hòa cùng không khí sôi động của các tỉnh Tây Nguyên, các cơ sở cách mạng đã được xây dựng trong các buôn, bon người M’nông, Êđê. Phong trào chống xâu, chống thuế lên cao, đặc biệt là phong trào diệt ác, trừ gian trên địa bàn đã gây tác động mạnh mẽ đối với bọn tề, ngụy tại địa phương.

Trong giai đoạn chuyển sang tổng phản công địch, các đoàn thể quần chúng như thanh niên, phụ nữ ở Nâm Nung được tổ chức xây dựng và phát triển. Một số cuộc đấu tranh trực diện với địch đã nổ ra. Qua các cuộc đấu tranh này đã lựa chọn được hàng ngũ cán bộ cốt cán đưa vào đào tạo nhằm tăng cường cán bộ cho các cơ sở xã, buôn, bon trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Tại đây, một trung đội du kích được thành lập (tuyển chọn một số thanh niên người M’nông), vận động nhân dân rào làng chiến đấu, đưa một số buôn làng đấu tranh bất hợp pháp với tề ngụy ở địa phương. Lực lượng vũ trang bí mật đã hỗ trợ đắc lực cho các cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân.

Trước khí thế cách mạng và sự hoạt động kiên trì, táo bạo và khéo léo của đội VT3.124, nhiều tên vốn là lính của Pháp tham gia trong hệ thống chính quyền thực dân tại Nâm Nung đã được cách mạng cảm hóa, từ bỏ con đường làm tay sai cho giặc. Đi theo cách mạng; nhiều người dân ở địa phương trên địa bàn Đắk Mil đã hy sinh để bảo vệ đội, như Y Muôn Blô bị giắc Pháp bắt đem ra đường 14 chặt hết chân tay vẫn không khai về nơi đóng quân của đội VT3.124, nữ du kích H’Mai chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và hy sinh bên bờ suối Đắk Đam để bảo vệ đội,…

Đến cuối năm 1950, cơ sở cách mạng được mở rộng ra 5 xã (Đắk Lô, Đắk Đam, Đắk La, Đắk Sua, buôn Bu róa). 5 chi bộ đảng đầu tiên ở Đắk Mil được thành lập. Các căn cứ lớn được hình thành và tạo một mạng lưới liên kết giữa lực lượng chiến đấu của Đắk Mil với lực lượng hoạt động ở địa bàn Đông Campuchia. Các cơ sở 5 xã xây dựng được lực lượng du kích, đào hầm chông, cài bẫy đá, rào buôn để chống địch, cùng một số buôn cơ sở khác tiến hành bất hợp tác với địch.

Giữa năm 1951, cơ quan tiền phương của tỉnh Đắk Lắk do đồng chí Lê Vụ, Phó Bí thư ban cán sự trực tiếp lãnh đạo công tác xây dựng cơ sở ở huyện Đắk Mil. Cùng với cán bộ cơ sở, đội vũ trang tuyên truyền VT3.124 quay trở lại Đắk Mil hoạt động. Từ cuối năm 1951, đầu năm 1952, trên địa bàn Nâm Nung đã hình thành các tổ chức cơ sở đảng. Cụ thể như bon Đắk Prí có 7 đảng viên do đồng chí Ama Beo làm Bí thư, bon R'cập có 4 đảng viên do đồng chí  Y Lớ làm Bí thư, bon Jriah có 4 đảng viên do đồng chí Ama Hùng làm Bí thư.

Tháng 4/1952, thực hiện chung của Đảng, dưới sự lãnh đạo của Ban cán sự đảng tỉnh Đắk Lắk, các tổ chức cơ sở đảng trên địa bàn Nâm Nung đã thực hiện tốt đợt chỉnh Đảng, chỉnh quân lần đầu tiên nhằm làm cho mọi chiến sĩ và đảng viên nhận rõ tính cách toàn dân, toàn diện, trường kỳ, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đội vũ trang tuyên truyền VT3.124 và các tổ chức cơ sở đảng tại Nâm Nung đã quyết tâm phải bám đất, bám dân, gây cơ sở cách mạng trong lòng địch, phát động chiến tranh du kích và hỗ trợ phong trào nổi dậy đấu tranh chống địch của đồng bào các dân tộc tại địa phương.

Các đồng chí đảng viên, chiến sĩ đội vũ trang tuyên truyền đã tự nguyện học tiếng M’nông, Êđê, thực hiện đóng khố, xăm tai, mang gùi, để tóc dài, hòa mình vào quần chúng để hoạt động và che mắt địch. Các chi bộ hoạt động tại vùng Nâm Nung nhắc nhớ các cán bộ, đảng viên và chiến sĩ hoạt động ở địa phương phải chú ý tìm hiểu về phong tục, tập quán của các dân tộc tại địa phương. Nhiều tấm gương cán bộ tiêu biểu như các đồng chí Nguyễn Tùy (năm Tùy), Lê Văn Cát (Ba Đạo)… đã kiên trì học tiếng M’nông, Êđê, cùng ăn cháo chua, đóng khố, cùng phát rẫy với đồng bào ở các buôn làng, qua đó tuyên truyền, vận động, giác ngộ quần chúng, xây dựng và phát triển các cơ sở cách mạng ở trong vùng.

Cuộc kháng chiến của quân và dân ta ngày càng phát triển, quân Pháp ngày càng rơi vào thế bị động, lúng túng trên các chiến trường. trong tình hình đó, tháng 5/1953, Chính phủ Pháp cử tướng Nava sang làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chính Pháp tại Đông Dương với hy vọng cứu vớt danh dự cho nước Pháp, Nava vạch ra một số kế hoạch quân sự mang tên “Kế hoạch Nava” với tham vọng trong vòng 18 tháng sẽ tạo ra một cục diện chiến trường có lợi thế cho Pháp. Riêng trên chiến trường Liên khu V, theo “Kế hoạch Nava”, quân Pháp mở “Chiến dịch Átlăng” nhằm tấn công toàn diện vào Tây Nguyên và vùng tự do của ta trên toàn Liên khu. Nava đặt hy vọng vào chiến dịch này. Theo các tướng lĩnh Pháp ở Đông Dương lúc bấy giờ, thành bại của chiến dịch Átlăng sẽ quyết định một phần quan trọng trong toàn bộ “Kế hoạch Nava” của thực dân Pháp.

Một góc thôn Đắk Thanh, xã Nam Xuân (Krông Nô) hôm nay. Ảnh: A Trư

Cùng cả nước tiếp tục cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai (1946-1954)

Tháng 11/1953, Trưng ương Đảng chính thức đề ra nhiệm vụ cho Liên khu V là phải ra sức tiêu diệt sinh lực địch, phá tan chiến dịch Átlăng, mở rộng căn cứ, bảo vệ vùng tự do, phối hợp đắc lực với chiến trường chính theo hướng tích cực và mạnh dạn phát triển lực lượng vào tây Nguyên, đồng thời tiếp tục củng cố vùng tự do của Liên khu V. Trung ương Đảng nhấn mạnh: Đối với chiến trường Liên khu V nhiệm vụ phát triển vào Tây Nguyên phải coi là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất và nhiệm vụ củng cố vùng tự do phải coi là nhiệm vụ quan trọng thứ hai.

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, tháng 12/1953, Hội nghị Liên khu ủy V và Đảng ủy Bộ Tư lệnh Liên khu V đã quyết định tập trung toàn bộ lực lượng bộ đội chủ lực của ta tiến công quân Pháp ở Tây Nguyên, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích, gây rối lực lượng của chúng trên địa bàn.

Trên đà phát triển của cách mạng cả nước nói chung và Tây Nguyên nói riêng, quân và dân tại vùng kháng chiến Nâm Nung bước vào cuộc Tổng tiến công chiến lược Đông – Xuân (1953-1954) với một khí thế mới. Ban Cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk tiến hành phân công, bố trí các đội vũ trang tuyên truyền xúc tiến việc phát động chiến tranh du kích trong lòng địch, kết hợp với binh vận để phá kế hoạch tăng cường bắt lính của chúng. Nhiều cán bộ quân dân chính của tỉnh được tăng cường về hoạt động tại Nâm Nung.

Các tổ chức cơ sở đảng, các lực lượng vũ trang và tổ chức quần chúng ở Nâm Nung thực hiện nhiệm vụ: Khẩn trương xây dựng tổ chức du kích tại buôn, bon, tổ chức huấn luyện cho du kích, xây dựng buôn chiến đấu; phối hợp với mặt trận phía trước, các tổ chức công tác tuyên truyền vũ trang bám chắc vào các buôn làng người M’nông, Ê đê, tổ chức cho quần chúng đấu tranh chống địch cà quét, vận động binh lính chống lệnh đi càn hoặc tìm cách báo cáo cho các cơ sở cách mạng tại chỗ của ta biết trước được kế hoạch càn quét của chúng để du kích địa phương phục kích đánh địch.

Phong trào cách mạng ở Tây Nguyên và địa bàn Nâm Nung trong chiến dịch Đông – Xuân (1953-1954) phát triển mạnh mẽ. Phong trào diệt ác, phá kìm của ta phát triển mạnh hơn trước. Các đại đội độc lập, đại đội tăng cường của Tỉnh đội Đắk Lắk đã bám đánh địch trên các tuyến đường lớn và tấn công các đồn bốt của chúng đóng trên địa bàn nhằm phối hợp với chiến trường trong toàn Liên khu V và cả nước đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi đến thắng lợi. Phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân các dân tộc dưới các hình thức đấu tranh như đòi chồng, con bị giặc bắt đi lính trở về với gia đình, càng làm cho tinh thần của binh lính ngụy thêm hoang mang, dao động và rệu rã. Giải phóng được đến đâu, cán bộ, đảng viên của ta bắt tay ngay vào việc xây dựng chính quyền cách mạng tới đó, vì vậy vùng giải phóng của ta ngày càng được mở rộng.

Ngày 7/5/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tin chiến thắng nhanh chóng lan truyền khắp Tây Nguyên, động viên quân và dân Tây Nguyên đánh giặc, cùng cả nước đẩy mạnh tiến công, tiêu diệt địch, giải phóng quê hương.

Ngày 21/7/1954, hiệp đinh Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta kết thúc thắng lợi. Ở Tây Nguyên, các tổ vũ trang tuyên truyền còn ở trong các buôn của đồng bào các dân tộc tại Nâm Nung nhanh chóng tuyên truyền về chiến thắng to lớn của dân tộc ta. Nhân dân được tin chiến thắng của quân ta ở Điện Biên Phủ đã vô cùng phấn khởi, tự hào.

Ảnh tư liệu

Ngày 7/5/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tin chiến thắng nhanh chóng lan truyền khắp Tây Nguyên, động viên quân và dân Tây Nguyên đánh giặc, cùng cả nước đẩy mạnh tiến công, tiêu diệt địch, giải phóng quê hương.

Ngày 21/7/1954, hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta kết thúc thắng lợi. Ở Tây Nguyên, các tổ vũ trang tuyên truyền còn ở trong các buôn của đồng bào các dân tộc tại Nâm Nung nhanh chóng tuyên truyền về chiến thắng to lớn của dân tộc ta. Nhân dân được tin chiến thắng của quân ta ở Điện Biên Phủ đã vô cùng phấn khởi, tự hào.

Phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần kiên cường bất khuất của anh hùng dân tộc N’Trang Gưh, N’Trang Lơng… Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Tỉnh ủy lâm thời Đắk Lắk, Ban Cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk và các tổ chức Đảng chiến khu VI, sau đó là Liên khu ủy V, trực tiếp là Đảng ủy Bộ Chỉ huy Quân sự Nam Trung bộ, nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (trong đó có địa bàn Nâm Nung) nhất tề hưởng ứng theo  Đảng, không ngừng đấu tranh cho độc lập, tự do của Tổ quốc, cùng cả nước làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, mở ra cho nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trang sử mới, từ thân phận người nô lệ, nhân dân các dân tộc Đắk Lắk đã trở thành những người chủ của đất nước, được sống trong không khí của những ngày độc lập, tự do.

Bảo vệ thành quả Cách mạng tháng Tám năm 1945, chín năm chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược, cuộc chiến đấu của quân và dân trên địa bàn Nâm Nung cùng với tỉnh Đắk Lắk và cả nước đã trải qua chặng đường vô cùng khó khăn, gian khổ và hi sinh. Với một địa bàn được xem là nơi “rừng thiêng, nước độc”, một địa bàn với vô vàn những khó khăn, thiếu thốn trong cuộc sống cũng như chiến đấu, nhưng quân và dân tỉnh Đắk Lắk luôn vững vàng kiên định trong lúc thắng lợi cũng như khi khó khăn, lúc cao trào cũng như lúc thoái trào. Trong mọi hoàn cảnh, nhân dân luôn tin tưởng và đi theo Đảng, quyết chiến đấu vì lý tưởng của Đảng. Do đó, kẻ thù rất thâm độc, tàn bạo, xảo quyệt nhưng không thể khuất phục ý chí và sức chiến đấu của Đảng bộ, quân và dân Tây Nguyên cũng như quân và dân trên địa bàn kháng chiến Nâm Nung.

Kháng chiến thắng lợi nhưng thắng lợi đó còn chưa trọn vẹn, một nửa đất nước của Việt Nam vẫn chưa được giải phóng, nhân dân các dân tộc trên địa bàn kháng chiến Nâm Nung lại tiếp tục củng cố, phát huy vị thế chiến lược, từng bước trở thành căn cứ địa quan trọng, được củng cố ngày càng vững chắc. Nơi đứng chân của cơ quan lãnh đạo, nơi đóng quân chiến đấu trong suốt 21 năm trường kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của tỉnh Quảng Đức nói riêng và Tây Nguyên cùng toàn miền Nam nói chung.

Tỉnh Quảng Ðức được thành lập, đảm nhận nhiệm vụ xây dựng căn cứ và hành lang chiến lược địa bàn Nam Tây Nguyên xuống chiến trường Ðông Nam Bộ (1954-1960)

I. Phong trào đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ trên địa bàn kháng chiến Nâm Nung (1954-1958)

Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết. Theo hiệp định, lấy sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) làm giới tuyến quân sự, đất nước ta tạm thời chia làm hai miền: Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam tạm thời chịu sự kiểm soát của địch. Sau hai năm sẽ tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Với yêu cầu của hiệp định, cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ mới phải đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội và tiếp tục đấu tranh hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà.

Thực hiện âm mưu thôn tính Việt Nam, ngày 7/7/1954, Mỹ vội nhảy vào thay thế Pháp, đưa Ngô Đình Diệm về nước thay Thủ tướng của chính quyền Bảo Đại lúc đó là Bửu Lộc để từng bước lập chính quyền bù nhìn tay sai dưới quyền điều khiển trực tiếp của Đại sứ Mỹ ở miền Nam. Hiệp định Giơnevơ vừa ký kết, Mỹ - Diệm ra sức phá hoại hiệp định cùng lời tuyên bố trắng trợn “không có hiệp thương tổng tuyển cử” do “chúng không ký và không bị ràng buộc bởi hiệp định đó”.

Đối với Tây Nguyên, địa bàn Đắk Lắk chiếm vị trí rất quan trọng về cả mặt quân sự, kinh tế, chính trị, xã hội. Vì thế, chúng ra sức đầu tư xây dựng Đắk Lắk nói riêng, Tây Nguyên nói chung trở thành một trung tâm căn cứ quân sự cơ động và ra sức khai thác tiềm năng to lớn về kinh tế nhằm mục đích phục vụ cho kế hoạch xâm chiếm lâu dài miền Nam Việt Nam và cả Đông Dương.

Cuối năm 1954, Mỹ - Diệm áp dụng chế độ xâu thuế cũ của thời Pháp, bắt nộp thuế thân, đồng thời dùng chính sách mua chuộc, lừa mị đồng bào các dân tộc như đưa hàng viện trợ Mỹ. Địch gấp rút mở rộng đồn điền Đắk Mil, Đắk Song; cưỡng ép các linh mục và đồng bào theo đạo Thiên chúa miền Bắc di cư vào, lập ra các khu di cư ở Đức Minh, Đức Mạnh (Đắk Mil). Phát triển đạo Tin lành trong vùng dân tộc ít người để tạo cơ sở chính trị - xã hội cho chế độ Diệm.

Về phía ta, năm ngày trước Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị toàn thể lần thứ VI (từ ngày 15 đến ngày 17/7/1954) để bàn về tình hình nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới. Hội nghị đã khẳng định: Đế quốc Mỹ đang là kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân ta. Vì thế phải tập trung lực lượng chĩa mũi nhọn đấu tranh vào chúng để thực hiện hòa bình, thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.

Trước âm mưu và hành động của đế quốc Mỹ, ngày 22/7/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: “Đồng bào miền Nam kháng chiến trước hết, giác ngộ rất cao. Tôi chắc rằng đồng bào sẽ đặt lợi ích cả nước lên trên lợi ích địa phương, lợi ích lâu dài trên lợi ích trước mắt, mà ra sức cùng đồng bào toàn quốc phấn đấu để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc”.

Trong hai ngày 27 và 28/7/1954, Liên khu ủy Khu V đã triệu tập Hội nghị Liên khu ủy mở rộng với sự tham dự của các bí thư tỉnh ủy. Hội nghị đã đi sâu phân tích diễn biến tư tưởng của cán bộ và quần chúng nhân dân trong khu, những thuận lợi và khó khăn của ta trong tình hình mới… Từ đó, Hội nghị đề ra những nhiệm vụ cấp bách cần phải hoàn thành trước ngày 31/8/1954 (ngày bàn giao chính quyền cho đối phương theo đúng Hiệp định Giơnevơ), đó là: Tiến hành một đợt tuyên truyền giáo dục thật sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về nội dung, ý nghĩa của Hiệp định Giơnevơ , về tình hình nhiệm vụ mới, về phương châm, phương pháp đấu tranh mới; sắp xếp, bố trí lại bộ máy lãnh đạo của Đảng và các tổ chức quần chúng từ khu cho đến cơ sở phù hợp với tình hình mới; biên chế lại lực lượng vũ trang thành các trung đoàn, sư đoàn để biểu dương lực lượng và chuyển quân tập kết ra Bắc theo đúng kế hoạch.

Chấp hành sự chỉ đạo của Trung ương và của Liên khu ủy Khu V, đầu tháng 8/1954, Thường vụ Ban Cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk đã họp và đề ra ba công tác lớn của tỉnh: Thứ nhất là, công tác tập kết ra Bắc do đồng chí Lê Văn Nhiễu – Bí thư Ban Cán sự tỉnh kiêm Chính ủy Trung đoàn 84 phụ trách. Thứ hai là, công tác bàn giao chính quyền cho đối phương do đồng chí Nguyễn Khắc Tính (Ba Ban) và đồng chí K’Nơng Y Bun (Ama Khê) Thường vụ Ban cán sự tỉnh phụ trách. Thứ 3 là, công tác sắp xếp cán bộ ở lại hoạt động do đồng chí Phạm Thuần – Thường vụ Ban cán sự tỉnh phụ trách.

Giữa tháng 8/1954, lực lượng của tỉnh Đắk Lắk tập trung về Tân Vinh – khu căn cứ của miền tây Phú Yên chuyển cho Đắk Lắk xây dựng trong kháng chiến chống Pháp, để tổ chức lễ mừng chiến thắng và liên hoan chia tay giữa nhân dân và quân đội của tỉnh. Buổi lễ có trên 2.000 đồng bào dân tộc các vùng căn cứ du kích và vùng địch tạm chiếm ở các huyện về dự cùng hàng nghìn cán bộ chiến sĩ quân dân chính của tỉnh. Buổi lễ đã nói lên thắng lợi của 9 năm kháng chiến chống Pháp, thắng lợi của Hiệp định Giơnevơ và nhiệm vụ đấu tranh của nhân dân sắp đến. Sau lễ tổ chức liên hoan đoàn kết, quân dân ta đã xuất kho cấp phát cho dân muối, gạo, nông cụ cho đồng bào đến dự. Buổi lễ chia tay quân, dân đã gây một ấn tượng sâu sắc trong lòng đồng bào kéo dài đến những năm sau này. Sau buổi lễ, lực lượng vũ trang của tỉnh rút về Bình Định để cùng lực lượng các tỉnh Tây Nguyên thành lập trung đoàn chiến đấu.

Với một thời gian ngắn từ ngày 1 đến 31/8/1954, mặc dù gặp nhiều khó khăn vì triển khai các hoạt động trên một địa bàn rộng, thông tin liên lạc khó khăn, việc tập kết rút quân tiến hành gấp nhưng quân và dân Đắk Lắk đã hoàn thành đúng theo kế hoạch và thời gian quy định.

Ngày 6/9/1954, Bộ Chính trị ra Chỉ thị về tình hình mới và nhiệm vụ công tác mới của miền Nam, Chỉ thị nêu rõ: “Kẻ thù trước mắt của ta là đế quốc Mỹ, hiếu chiến Pháp và tay sai của chúng. Nhiệm vụ trước mắt của miền Nam là: Thi hành triệt để Hiệp định đình chiến (tập kết quân đội, rút quân ra Bắc). Đấu tranh đòi Pháp phải thi hành đúng Hiệp định; chuyển hướng công tác cho thích hợp với điều kiện hòa bình… sắp xếp cán bộ, bố trí lực lượng; bảo đảm vừa che giấu được lực lượng, vừa lợi dụng được những khả năng thuận lợi mới mà hoạt động để thực hiện chủ trương, chính sách và khẩu hiệu mới của Đảng; đoàn kết rộng rãi, tập hợp mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình, đấu tranh đánh đổ Chính phủ Ngô Đình Diệm, lập Chính phủ không thân Mỹ, tiến tới hiệp thương thống nhất Tổ quốc. Phương châm đấu tranh của ta lúc này là “kết hợp công tác hợp pháp và không hợp pháp, hết sức lợi dụng mọi khả năng hợp pháp và nửa hợp pháp mà tuyên truyền tổ chức lãnh đạo quần chúng đấu tranh, khéo công tác, khéo che giấu lực lượng”.

Thực hiện chỉ thị trên, sau khi lực lượng quân, dân, chính đảng của Đắk Lắk (chủ yếu là lực lượng vũ trang) đã tập trung về Bình Định để học tập chủ trương, đường lối của Đảng sau Hiệp định Giơnevơ.

Dựa vào sự chỉ dẫn của Trung ương về tình hình nhiệm vụ và phương pháp đấu tranh mới, Ban Cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk đã bố trí số cán bộ, đảng viên trên thành hai bộ phận hoạt động hợp pháp và bất hợp pháp với khoảng 120 đồng chí; cử hai bộ phận về hoạt động gây dựng cơ sở vùng Tây Nam của tỉnh: Bộ phận hoạt động hợp pháp có ba đồng chí Nguyễn Tùy (Năm Tùy) làm đội trưởng, Phạm Văn Hương và Bùi Văn Viện. Bộ phận hoạt động bất hợp pháp có năm đồng chí là :Trần Phòng (Bảy Biên) làm đội trưởng, các đồng chí Ba Đạo (Ma Nhao), Nguyễn Xuân Hòa (Ma Thu), Y Bớ (Ma Sa) và Y Đum (Ma Dút) làm đội viên.

Bộ phận hợp pháp cho thị xã Buôn Ma Thuột và các thị trấn Cheo Reo, Đắk Mil, Bản Đôn 20 đồng chí. Bộ phận bất hợp pháp cho 7 huyện nông thôn, cho cơ quan tỉnh và giao thông liên lạc gồm khoảng 100 đồng chí. Ngoài ra, tỉnh còn bố trí một số cán bộ, đảng viên người dân tộc về sống và làm việc trong nhân dân để hoạt động tại chỗ.

Ở khu vực Nâm Nung, địa chỉ được đội thâm nhập đầu tiên là bon Đru (xã Đắk Rồ, nay là xã Đắk Drô). Các đồng chí đã móc nối được với cụ gia lên là Bơ Trang (Sau là đảng viên, cha nuôi của đồng chí Trần Phòng). Thông qua cụ Bơ Trang ta tranh thủ tuyên truyền, giáo dục và xây dựng được cơ sở trong toàn bon. Anh em trong đội công tác cũng thường xuyên vận động chăm sóc, tắm rửa, cắt tóc cho trẻ em, cùng làm rẫy, trồng hoa màu với nhân dân tạo thêm nguồn lương thực. Nhờ có phương châm và phương pháp vận động phù hợp nên các cơ sở cách mạng ở đây dần dần được xây dựng và phát triển, đồng thời khôi phục được bốn cơ sở ở bốn xã vùng Nâm Nung tạo tiền đề cho việc xây dựng nơi đây trở thành vùng căn cứ đứng chân của tỉnh Quảng Đức trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Bộ phận hoạt động bất hợp pháp không nhận được sự chỉ đạo của trên nên anh em chỉ dựa vào nội dung tuyên truyền, vu khống của địch để giáo dục cho quần chúng hiểu bản chất của vấn đề và ý đồ thâm độc của kẻ thù, đồng thời bày cách cho đồng bào chống lại chúng. Đến cuối năm 1955, đội công tác gây dựng thêm được cơ sở ở các xã Đắk La (thuộc huyện Đắk Mil ngày nay) và xã Đắk Mâm, các buôn: Thu, Ma Ha, Jrah (thuộc huyện Krông Nô ngày nay), các đồng chí trong chi bộ bí mật xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng trong các buôn, xã đồng bào tại chỗ.

Để bảo đảm sự lãnh đạo thông suốt từ tỉnh đến cơ sở, các đồng chí trong đội hoạt động bất hợp pháp đã tổ chức cho anh em cải trang là người dân tộc lên bám khu vực chợ Buôn Ma Thuột để bắt liên lạc với bộ phận hoạt động hợp pháp. Cuối cùng, hai bộ phận đã gặp được nhau, nhờ đó phong trào cách mạng ở các huyện phía Nam tỉnh dần được đẩy lên, phối hợp với phong trào đấu tranh chung của tỉnh.

Việc bố trí cán bộ bám lại chiến trường là một thắng lợi lớn bước đầu, tỉnh Đắk Lắk tranh thủ thời gian địch còn sơ sở, kịp thời đưa cán bộ lên khắp các địa bàn trong tỉnh, bảo đảm được bí mật, an toàn, che giấu được lực lượng ta, địch không phát hiện được. Đặc biệt, tỉnh đã sớm bố trí được một đội ngũ cán bộ hợp pháp vào thị trấn, thị xã, tạo một thời gian dài, kết hợp giữa hai lực lượng hợp pháp và bất hợp pháp, giữa nông thôn và thành thị hỗ trợ lẫn nhau. Cán bộ hợp pháp ở lại thị xã đã phục vụ tốt cho công tác nắm tình hình địch, giải quyết được nhiều vấn đề về kinh tế tài chính cho tỉnh, phục vụ tốt cho việc xây dựng phát triển cơ sở cách mạng ở thị xã, thị trấn và nông thôn.

Năm 1955, Mỹ - Diệm cho tiến hành các hoạt động phá hoại hiệp định, như thi hành chính sách “tố cộng”, diệt cộng” với những thủ đoạn rất dã man, trắng trợn, kết hợp với dụ dỗ, lừa bịp với những phương châm “thà giết nhầm còn hơn bó sót”.

Tháng 3/1955, Diệm xóa bỏ chế độ “Hoàng triều cương thổ” của vua Bảo Đại và lập ra Tòa đại diện Chính phủ tại Cao nguyên trung phần, trụ sở đóng tại Buôn Ma Thuột. Tháng 6/1955, Ngô Đình Diệm ký ban hành chính sách “Kinh – Thượng đề huề - Quân dân nhất trí – khai thác miền sơn cước”, chúng đưa bọn tay chân mê hoặc được một số thanh niên ra làm “lễ tuyên thệ” ủng hộ thủ đoạn này, đích thân Ngô Đình Diệm chủ trì buổi lễ. Sau đó, chúng cho phép bọn ngụy quyền, tướng tá quân đội ngụy khai thác đất đai ở các vùng trù phú, lập ra các đồn điền cà phê, cao su, độc quyền khai thác nông – lâm sản.

Năm 1956, địch ra sức củng cố hệ thống tề ngụy ở cơ sở xã, buôn, bon cho các toán gián điệp, biệt kích len lỏi vào vùng căn cứ của ta để thăm dò. Dưới chiêu bài “Thượng du vận” và những buôn, bon địch đã kiểm soát, chúng tổ chức nhiều cuộc cưỡng ép đồng bào Êđê, M’nông phải khai báo những người tham gia cách mạng, che giấu, tiếp tế, nuôi dưỡng cán bộ cách mạng trước đây nhằm đánh vào cơ sở cách mạng của ta. Chúng đưa các đoàn chiêu hồi, tâm lý chiến nấp dưới hình thức các đoàn vệ sinh, y tế đi phun thuốc trừ muỗi, các lái buôn, để đi sâu vào tận các buôn làng người Thượng hoạt động dài ngày hòng tìm ra dấu vết cán bộ nằm vùng của ta trên địa bàn tỉnh. Trước tình hình đó, các buôn người Êđê, M’nông tại Nâm Nung và các buôn, bon khác đã gây dựng được sơ sở cách mạng, được giác ngộ cách mạng phát động quần chúng nhân dân không chịu lập tề - ngụy; không chịu thay đổi chủ bon, nhiều buôn, bon che giấu cán bộ của đội công tác và các cơ sở cách mạng, bảo vệ lực lượng của ta.

Công tác vận động quần chúng xây dựng phát triển cơ sở ở Đắk Lắk trong những năm 1955 đến 1956 phát triển mạnh. Một mặt ta móc nối lại số cán bộ cũ ở nông thôn, đẩy mạnh xây dựng phát triển cơ sở ở vùng đồng bào các dân tộc, mặt khác xây dựng cơ sở mới vào vùng địch, thị trấn, các đồn điền. Mỗi buôn, mỗi vùng chỉ có một vài cán bộ bám sát vào dân, quần chúng hóa, ăn ở trong dân, cùng lao động sản xuất với dân, dạy thanh niên học chữ, dùng thuốc nam chữa  bệnh cho dân. Cán bộ được dân tin, dân mến, được dân che chở khi có địch, nuôi dưỡng khi đau ốm, nhiều đồng chí được dân xem như con em trong bon, buôn, được dân thừa nhận là thành viên trong cộng đồng dân tộc ít người. Nhờ đó, ta nắm được đông đảo nhân dân, nắm được tề ngụy ở xã, buôn, nắm được cả lớp trên, già làng hình thành mặt trân đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân chống Mỹ - Diệm. Công tác binh vận thời gian này cũng làm tốt, vận động được số đông binh lính, tranh thủ được một số đồn trưởng, quận trưởng, tỉnh phó người dân tộc hướng họ có cảm tình với cách mạng, có người làm ngơ để cho nhân dân tham gia cách mạng. Các huyện phía Bắc của tỉnh có cơ sở đều khắp các buôn làng, nhiều nơi đã xây dựng được cơ sở đảng, các huyện phía Nam của tỉnh tuy còn hẹp nhưng cán bộ cũng bám được dân. Ở huyện Đắk Mil lúc đầu đứt liên lạc với tỉnh nhưng đội công tác vẫn bám xây dựng được cơ sở ở 7 xã trong huyện.

Đi đôi với xây dựng phát triển cơ sở, trong hai năm 1955 đến năm 1956 tỉnh cũng đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống địch, đem lại những quyền lợi thiết thực cho dân. Sau khi có lệnh ngừng bắn, quần chúng nhân dân đã đẩy mạnh phong trào chống xâu, chống thuế buộc địch phải bãi bỏ việc bắt dân đi xâu cho các đồn điền của chúng và bãi bỏ thuế thân, đấu tranh đòi tự do đi lại, chống khủng bố bắt người, đấu tranh đòi chồng con đi lính cho địch trở về. Hàng trăm người nhà binh lính người dân tộc ở vùng ta và cả trong vùng địch kéo lên đồn, lên quận đấu tranh với khẩu hiệu “Hòa bình rồi, phải trả chồng con về nhà làm ăn”. Cuộc đấu tranh kéo dài nhiều ngày ở các đồn bốt địch, một số cán bộ người Kinh đã cải trang cùng đi với dân vào đồn địch để trực tiếp lãnh đạo đấu tranh, kéo được một số lính trở về nhà.

Bước vào cuộc chiến đấu mới, ta có những thay đổi rất cơ bản cả thế và lực, cả phương châm và phương pháp đấu tranh. Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình; từ hoạt động công khai chuyển sang hoạt động bí mật; từ kháng chiến chống Pháp sang đấu tranh chính trị chống Mỹ - Diệm đòi thi hành hiệp định Giơnevơ.

Tháng 7/1955, hưởng ứng phong trào đấu tranh đòi hiệp thương, ở Đắk Mil có những đoàn đại biểu và quần chúng lên đồn, lên quận đưa kiến nghị đòi hiệp thương tổng tuyển cử. Trước những hoạt động phá hoại của Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu ý dân phế truất Bảo Đại (10/1955), công khai xóa bỏ Hiệp định Giơnevơ, đưa Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống Việt Nam cộng hòa, tổ chức bầu cử quốc hội riêng rẽ và ban hành hiến pháp mới (3/1956).

Nắm bắt các hoạt động của địch, tổ công tác của ta kịp thời hướng dẫn nhân dân không đi bỏ phiếu, số người bị bắt đi, ta lãnh đạo làm bẩn phiếu, rách phiếu hay bỏ cả hai phiếu vào một thùng, đồng thời tập dượt cho quần chúng nhiều phương thức đấu tranh với địch, nhiều cuộc đấu tranh chống địch của quần chúng ở các vùng liên tiếp diễn ra. Có nơi tẩy chay bầu cử bịp bợm của Diệm, cơ sở ta vận động binh lính ném lựu đạn giải tán điểm bầu cử; quần chúng các buôn làng vùng Sa Na, Yang Yú ở Đắk Mil đã giằng co, trì hoãn làm phá sản kế hoạch dồn dân vùng sâu ra trục đường 14.

Đầu năm 1957, Mỹ - Diệm chuyển lên đánh phá miền núi, chúng triển khai chiến dịch “tố cộng” ra sức dồn dân miền núi vào khu tập trung ở giáp ranh các tỉnh đồng bằng nhằm kiểm soát dân chặt chẽ hơn và đánh bật lực lượng cách mạng ra khỏi miền núi.

Ngày 22/2/1957, nhằm mục đích khuếch trương cho chính sách khai thác Tây Nguyên, Ngô Đình Diệm còn tổ chức Hội chợ triển lãm về kinh tế cao nguyên tại thị xã Buôn Ma Thuột để triển khai kế hoạch chiếm đoạt đất đai, rừng núi, bến nước của đồng bào dân tộc thiểu số, lập hệ thống các dinh điền. Trong diễn văn, Ngô Đình Diệm đã lên tiếng kêu gọi nhân dân vùng đồng bằng hãy lên định cư ở cao nguyên để khai thác vùng cao nguyên một cách nhanh nhất và nhiều nhất nhằm phục vụ cho công cuộc xâm lược và thống trị của chúng. Lời tuyên bố của Diệm tại Hội chợ đã mở đầu chiến dịch đưa người Kinh quê ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và một số tỉnh ở Nam bộ lên Tây Nguyên lập một số dinh điền. Hàng chục vạn đồng bào người Kinh, phần lớn là những người kháng chiến cũ, phải rời bỏ quê hương làng xóm thân yêu của mình lên sống ở vùng “rừng thiêng nước độc” này.

Đến tháng 5/1957, chính quyền Ngô Đình Diệm thông quan đạo luật “Đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, công khai hóa việc đàn áp cách mạng miền Nam Việt Nam”. Ngoài ra, Ngô Đình Diệm còn tiến hành một số hoạt động đưa một số chăn màn, quần áo, thuốc chữa bệnh, gạo muối… lên viện trợ cho những vùng chúng thấy có thể quy thuận được. Chúng tập trung đầu độc thanh thiếu niên, cho ăn chơi đua đòi để biến họ thành những nhân viên chỉ điểm, mật vụ làm tay sai cho chúng.

Chính quyền Diệm nhận định muốn khai hóa văn minh vùng dân tộc, phải xóa bỏ các luật tục của đồng bào các dân tộc như: Luật Sử dụng đất đai, luật Hôn thú, luật Tang lễ,… thay vào đó là luật chung của chính quyền Ngô Đình Diệm. Chúng bắt đồng bào thay đổi cách mặc, đàn ông phải bỏ khố, đàn bà phải bỏ váy, mặc quần áo như người Kinh. Để đàn áp cuộc đấu tranh của nhân dân, Diệm đưa một số đơn vị lính Nùng thuộc Sư đoàn 5 từ miền Bắc vào vùng Đắk Mil để làm áp lực cho việc xây dựng hệ thống tề ngụy các buôn, bon xã người M’nông, Êđê. Nhưng các cơ sở cách mạng của ta ở địa phương đã vận động đồng bào bất hợp tác với địch nên chúng không sao lập được tề.

Những hành động trên của Mỹ - Diệm đã làm tăng thêm mức độ trầm trọng và sâu sắc của mâu thuẫn dân tộc giữa một bên là nhân dân miền Nam, bao gồm tất cả các dân tộc, tôn giáo, đảng phái, với một bên là đế quốc Mỹ xâm lược và bọn tay sai của chúng.

Năm 1957, Đắk Lắk vốn là vùng địch hậu, trong kháng chiến phong trào cách mạng còn yếu nên các đợt “tố cộng” của địch tập trung chủ yếu vào các vùng căn cứ kháng chiến, vùng du kích cũ. Địch bắt dân làm thẻ kiểm tra, kê khai dân số, kê khai gia đình kháng chiến, gia đình có người đi tập kết, bắt dân đi học tố cộng, tuyên truyền nói xấu cộng sản, chia rẽ Kinh – Thượng, truy bắt đánh đập, tra tấn số cán bộ cốt cán của ta. Địch dùng lính bảo an, cảnh sát lùng sục ven buôn, rẫy để phát hiện nơi ăn, ở của cán bộ bất hợp pháp, ngăn cấm dân không được để lúa gạo ở rẫy, ban đêm không được ngủ ở rẫy, ngăn cấm việc tiếp tế, nuôi dưỡng, che giấu cán bộ cách mạng, đưa bọn mật vụ chỉ điểm ở các tỉnh đồng bằng miền Trung lên Đắk Lắk để theo dõi nhận diện, truy bắt số cán bộ hợp pháp, cán bộ chuyển vùng của ta. Nhưng so với đồng bằng, hoạt động “tố cộng” của địch ở Đắk Lắk không quyết liệt, mức độ tổn thất về cán bộ, đảng viên không nhiều. Cán bộ ta lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống khủng bố bắt người, không chịu đi học tố cộng, nhân dân đã lợi dụng những phong tục tập quán của người dân tộc làm lý do để không cho địch vào làng, tổ chức cắm chông, gài mang cung ở ven rẫy không cho địch đi lùng sục.

(Còn nữa)

14,360
Viết bình luận mới
Thăm dò ý kiến

Một thời gian dài, tình trạng sạt lở do khai thác cát dọc sông Krông Nô, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông đã ảnh hưởng lớn đến đời sống sản xuất người dân. Trong khi đó, việc xử lý, khắc phục còn chưa triệt để. Theo bạn đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên?