Chuyển biến trong chuyển đổi số ở Ðắk Nông

Cập nhật ngày: 10/10/2022 | 08:37 GMT+7

Thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU, ngày 1/11/2021 của Tỉnh ủy, Đắk Nông đã ban hành nhiều chính sách quan trọng nhằm thực hiện chuyển đổi số (CĐS) trên nhiều lĩnh vực. CĐS đã giúp nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành, tăng tính công khai, minh bạch trong giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp.

Xây dựng chính quyền điện tử

Xác định là một trong ba trụ cột vững chắc của quá trình CĐS, Đắk Nông đang tập trung xây dựng chính quyền số từ nền tảng chính quyền điện tử, góp phần hiện đại hóa nền hành chính công.

Công ty Nhôm Đắk Nông áp dụng CĐS trong nhiều cung đoạn điều hành, sản xuất

Đến nay, tỉnh đã xây dựng nền tảng chia sẻ, tích hợp của tỉnh (LGSP) và kho dữ liệu dùng chung theo kiến trúc Chính quyền điện tử phiên bản 2.0.

Tỉnh đã kết nối với Chính phủ và cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, bảo hiểm, hệ thống cấp phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến… phục vụ phát triển CĐS.

Đến nay, 100% cơ quan, đơn vị Nhà nước cấp tỉnh đến cấp xã đều gửi, nhận văn bản điện tử qua môi trường mạng; đồng thời, liên thông với trục liên thông văn bản quốc gia của Văn phòng Chính phủ, các bộ, ngành.

Đồ họa: N. T

Việc triển khai dịch vụ công trực tuyến cũng được địa phương đẩy mạnh. Theo đó, 8/8 huyện, thành phố và 7/18 sở, ngành trên địa bàn tỉnh đã triển khai niêm yết thủ tục hành chính bằng mã QR-code.

Toàn tỉnh đã triển khai thành lập được 58/71 tổ công nghệ số cộng đồng cấp xã, với khoảng 550 thành viên; 543/711 tổ công nghệ số cộng đồng cấp thôn, với 2.424 thành viên; 7/8 huyện, thành phố đã triển khai thành lập 100% tổ công nghệ số cộng đồng cấp xã, cấp thôn.

Cổng dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) của tỉnh đã tích hợp ứng dụng một cửa điện tử liên thông của tỉnh, cung cấp 312 dịch vụ công mức độ 3 và 646 dịch vụ công mức độ 4.

Cổng DVCTT cũng thực hiện kết nối thành công 437 thủ tục hành chính của tỉnh lên Cổng dịch vụ công Quốc gia.

Người dân quét mã QR code tại bộ phận một cửa của UBND phường Nghĩa Tân (Gia Nghĩa)

 

Ðến nay, tỷ lệ DVCTT của Ðắk Nông phát sinh hồ sơ mức độ 3 là 39,9%, mức độ 4 là 31,5%. Tỷ lệ hồ sơ tiếp nhận và xử lý trực tuyến mức độ 3 là 58,2%, mức độ 4 là 82,1%.

 

Hình thành thói quen số

Thể hiện rõ nhất là trong việc triển khai các nền tảng công nghệ trong công tác phòng, chống dịch Covid-19. Đến nay, toàn tỉnh đã có 79/79 đơn vị sử dụng chứng thư số phục vụ việc ký xác nhận dữ liệu tiêm chủng để cấp “Hộ chiếu vắc xin” cho người dân. Tổng số hồ sơ khởi tạo có tài khoản Hồ sơ sức khỏe từ Bảo hiểm Xã hội tỉnh đạt tỷ lệ 99,5%.

Đặc biệt, trong việc triển khai thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM), Đắk Nông đã sớm đạt nhiều kết quả quan trọng. Tại các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh hiện đều ứng dụng các giải pháp kỹ thuật, trí tuệ nhân tạo để phân tích hành vi, nhu cầu khách hàng.

Người dân Gia Nghĩa quét mã QR code để thanh toán khi mua hàng 

Các ngân hàng hiện nay đã xây dựng kho dữ liệu, tạo hệ sinh thái số trải rộng nhiều ngành, lĩnh vực như hệ sinh thái mobile banking kết nối với dịch vụ công, tài chính, viễn thông, điện lực, giao thông, y tế…

Đến 20/8/2022, trên địa bàn tỉnh có khoảng 78 ATM và 296 máy POS hoạt động; khoảng 995 đơn vị trả lương qua tài khoản. Số thẻ được phát hành tại các ngân hàng thương mại đang còn hoạt động khoảng 337.200 thẻ. Số tài khoản thanh toán các ngân hàng đã mở cho khách hàng đang còn hoạt động khoảng gần 393.000 tài khoản.

Đối với dịch vụ công, hoạt động TTKDTM cũng diễn ra sôi động. Đến nay, toàn tỉnh có 100% doanh nghiệp đăng ký nộp thuế điện tử; 78% trên tổng số thu ngân sách được hạch toán tại Kho bạc Nhà nước qua phương thức điện tử; 65% doanh thu tiền điện thanh toán qua phương thức điện tử; trên 40% số người hưởng và số tiền lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp chi trả qua tài khoản cá nhân.

 

Ðến nay, toàn tỉnh có 100% xã, phường, thị trấn được kết nối cáp quang đến trung tâm; 97% thôn, buôn, bon được phủ sóng 4G; 50,65% hộ gia đình có kết nối băng rộng cố định; tỷ lệ người dân sử dụng internet là 73,08%; tỷ lệ thuê bao điện thoại thông minh 88,74%; tỷ lệ người sử dụng điện thoại di động 2G/dân số 9,37%; tỷ lệ thuê bao điện thoại di động/100 dân 106,6%; 100% cơ sở giáo dục kết nối internet băng thông rộng…

 

Lê Dung

2,686
Viết bình luận mới